40 tenets

Công khai
Tuyển chọn bởi Tsz Fung Tai
Cập nhật lần cuối Tháng 5 29, 2026
Thich Nhat Hanh Tháng 11 17, 2005 Tiếng việt

Định Đề Giáo Lý Làng Mai 1-2

Chi tiết buổi pháp thoại này tập trung vào khóa tu an cư mùa đông kéo dài ba tháng tại chùa Từ Nghiêm Xóm Mới. Trong mùa an cư mùa đông, đại chúng được khuyến khích hạn chế sử dụng điện thoại, email, máy tính và phương tiện giao thông để đầu tư thời gian và năng lượng đi sâu vào những thiền tập căn bản “hạ thủ công phu” như các pháp môn: thiền hành, thiền ngồi, thiền ăn, thiền nói, phải chấm điểm từng pháp môn, ghi chép sổ công phu cá nhân, làm việc chung với đại chúng… Tất cả các sự thực tập đều hướng đến bồi đắp tình huynh đệ, xây dựng tăng Thân và mỗi cá nhân luôn làm chủ tự thân, ý thức sáng tỏ trong mọi sinh hoạt cũng như giao tiếp. Tiếp tục chủ đề các khóa an cư năm trước đã học về lịch sử và tư tưởng Phật Giáo: Dị Bộ Tông Luân luận, Đại tạng Nam Truyền, Đại Tạng Bắc Truyền, Truyền thống sinh động… để biết là ở Làng Mai thực tập trên những căn bản nhận thức của giáo lý nào. Mùa an cư năm nay 2005, dại chúng có cơ hội nhận diện và quy định những giáo lý được học hỏi và chủ trương tại Làng Mai qua 40 định đề.
Định đề 1: Không gian không phải là một pháp vô vi. Không gian chỉ biểu hiện chung với thời gian, vật thể và tâm thức.
Định đề 2: Đứng về phương diện tích môn các pháp đều là hữu vi. Đứng về phương diện bản môn các pháp đều là vô vi

Thich Nhat Hanh Tháng 11 24, 2005 Tiếng việt

Định Đề Giáo Lý Làng Mai 3-7

Nội dung chính của bài pháp thoại này Sư Ông giảng giải về các định đề 3,4,5,6,7.
Định đề 3: “Niết bàn là sự vắng mặt của vô minh và phiền não mà không phải là sự vắng mặt của uẩn, xứ và giới”.
Chúng ta thấy Đức Thế Tôn, các vị Bồ tát an trú trong Niết bàn tức là không có vô minh và không có phiền não, nhưng mà trong khi đó uẩn, xứ, giới nó vẫn còn. Chỉ có điều khác biệt là uẩn, xứ, giới nó không gây khổ đau cho Bụt và Bồ Tát được. Tại vì không có phiền não, không có vô minh rồi, thì đâu còn khổ đau nữa. Thành ra những cái uẩn, cái xứ, cái giới đó không phải là khổ đau. Khổ đau hay không là tùy theo cái cách mình nhìn và sử dụng uẩn, xứ và giới.

Định đề 4: “Niết bàn là Niết bàn, không hữu dư y cũng không vô dư y”.
Có nhiều tông phái quan niệm rằng: khi chứng được A La Hán là tiếp xúc được với Niết bàn nhưng vì năm uẩn còn nên Niết bàn vẫn còn sự sót lại gọi là Niết bàn hữu dư y. Khi thân thể không còn nữa thì lúc đó mới gọi là Niết bàn vô dư y. Nhưng điều này dễ đưa đến sự hiểu lầm rất lớn về Niết bàn là không có uẩn, xứ, giới, là hư không.

Định đề 5: “Niết bàn có thể được tiếp xúc trong giây phút hiện tại.”
Nếu chúng ta vun trồng ba nguồn năng lượng Niệm, Định và Tuệ thì ngay trong giây phút hiện tại ta vẫn có thể tiếp xúc được với Niết bàn.

Định đề 6: “Niết bàn không phải là một pháp mà là tự tánh của tất cả các pháp”.
Đạo lý duyên khởi nói về sự liên hệ giữa bản thể và hiện tượng cũng ví như sự liên hệ giữa sóng và nước. Niết bàn là cái nền tảng cho tất cả những cái có sinh, có diệt, có có, có không, có tạo tác.

Định đề 7: “Vô sinh có nghĩa là Niết bàn, có nghĩa là Chánh giác, cùng với bất diệt, phi nhất phi nhị, phi hữu phi vô.”
Vô sinh là đại diện cho bất diệt, nó đại diện cho vô khứ, cho vô lai, cho phi hữu, phi vô. Nếu chúng ta thực tập cho sâu sắc và tinh cần thì chạm được với Niết bàn tức là sự tắt ngấm của tám ý niệm đó.

Thich Nhat Hanh Tháng 12 1, 2005 Tiếng việt

Định Đề Giáo Lý Làng Mai 8-10: Tam Giải Thoát Môn - Tam Pháp Ấn

Ba cánh cửa giải thoát trong Phật giáo

Định là trạng thái tinh thần quan trọng, được dịch là “đắn trì” trong chữ Hán - việc giữ tâm hành ổn định, không bị gián đoạn. Đây là một trong năm tâm hành biệt cảnh quan trọng trong tu hành.

Thích Nhất Hạnh giảng về ba khái niệm cốt lõi trong Phật pháp:

  1. Không (emptiness)
  2. Vô tướng (signlessness)
  3. Vô tác (aimlessness)

Ba khái niệm này không nên hiểu như giáo lý mà là dụng cụ giúp hiểu sâu hơn về thế giới Tích môn và Bản môn (Niết Bàn). Để sử dụng hiệu quả, cần biến chúng từ ý tưởng thành định. Đây là ba cánh cửa giải thoát (tam giải thoát môn) giúp thoát khỏi đau khổ, lo lắng và sợ hãi.

Khái niệm “Không”

“Rỗng” chính xác hơn từ “không”. Không có nghĩa là không có tồn tại riêng lẻ, mà phụ thuộc vào những yếu tố khác. Hiểu được khái niệm “không” là hiểu được sự duyên sinh.

Ví dụ về bông hoa: bông hoa phụ thuộc vào mặt trời, ánh sáng, hạt giống và đất đai. Nếu loại bỏ những yếu tố đó, bông hoa không còn tồn tại.

Theo Thầy Long Thọ: “Nhân duyên sở sinh pháp, tức là tất cả mọi thứ phát sinh từ sự phụ thuộc và biểu hiện ra, được gọi là trống rỗng vì chúng không có sự tồn tại riêng lẻ.

Khái niệm “Vô tướng”

Chỗ nào có tướng, chỗ đó có sự lừa gạt“ (Kinh Kim Cương). Tri giác phát sinh từ tướng, và khi kẹt vào tướng, chúng ta bị đánh lừa.

Nhìn bằng con mắt vô tướng giúp thấy rằng không gian, vật thể và năng lượng không riêng biệt mà liên kết với nhau. Ví dụ về đám mây: khi không còn trên trời, ta nói đám mây không có, nhưng thực tế đám mây vẫn tồn tại dưới dạng mưa hay tuyết.

Khái niệm “Vô tác”

Vô tác không đồng nghĩa với không có mục đích, mà thực ra là desirelessness (không mong muốn). Khi đặt mục tiêu cho cuộc đời, chúng ta thường chạy theo mà không nhận ra giá trị hiện tại.

Tìm kiếm Niết Bàn hay Thượng Đế giống như tìm nước trong sóng - điều đáng cười. Sóng không cần phải tìm kiếm nước vì chính nó đã là nước. Đời sống giống như nước, không cần phải tìm kiếm.

Hạnh phúc không phải là điều đến sau khi chúng ta đạt được mục tiêu, mà chính việc đi đã mang lại hạnh phúc.“ Quan trọng là nhận ra mỗi bước chân, mỗi khoảnh khắc hiện tại là chính bản môn mà chúng ta tìm kiếm.

Ba pháp ấn và Niết Bàn

Ba pháp ấn trong Phật giáo Lâm Tông là:

  1. Vô thường
  2. Khổ
  3. Vô ngã

Trong khi đó, học giả khác đề cập đến:

  1. Vô thường
  2. Vô ngã
  3. Niết Bàn

Thích Nhất Hạnh nhấn mạnh Niết Bàn là pháp ấn quan trọng, giúp nhận ra khổ đau không phải do sự vật mà do cách nhìn nhận. “Niết Bàn là nơi quay về của tất cả các pháp, là cái bản môn.

Bốn pháp ấn cũng được nhắc đến:

  1. Vô thường
  2. Khổ
  3. Không
  4. Vô ngã

Vô thường là khái niệm có thể hiểu, nhưng để thực sự sống với vô thường, cần nhìn thấy vô thường trong mọi vật, từ đó nhận thức vô ngã và Niết Bàn. Vô ngã là cầu nối đến Niết Bàn.

Hạnh phúc thực sự chỉ đạt được khi sống theo tinh thần của không vô tướng, vô tác, vô thường, vô ngã và Niết Bàn - biến những khái niệm trừu tượng thành cách sống trong hành động hàng ngày.

Thich Nhat Hanh Tháng 1 26, 2006 Tiếng việt

Định Đề Giáo Lý Làng Mai 20: Vị La Hán Cũng Là Vị Bồ Tát

A-La-Han chân thực cũng là một Bồ Tát - câu này nhắc nhở chúng ta rằng không có sự phân biệt giữa tiểu thừa và đại thừa. A-La-Han thường được dịch là “ứng cúng,” nghĩa là xứng đáng được tôn kính, hoặc “bớt sinh,” tức là không còn sinh ra. “Bất sanh” trong đạo Phật có nghĩa là “bất diệt” và thể hiện khả năng phá trừ phiền não, khổ đau và mê muội. Đức Thế Tôn cũng được gọi là A-La-Han, một trong mười danh hiệu cao quý của Ngài.

Ba khả năng cốt lõi của A-La-Han (tam đức) gồm:

  • Đoạn đức: khả năng cắt đứt, buông bỏ phiền não và vướng mắc
  • Ân đức: mở rộng trái tim để thương yêu, giúp đỡ mọi người không phân biệt
  • Trí đức: hiểu biết bản chất của vũ trụ và khổ đau của mình và người khác

Đạo Phật là một đạo nhân bản, nhấn mạnh rằng Bụt và Bồ Tát chính là chúng ta. Đức Thế Tôn, dù đã giác ngộ, vẫn mang thân phận con người với những trải nghiệm bình thường. Việc thần thánh hóa Ngài là một sai lầm, vì nếu Ngài chỉ là một vị thần linh, chúng ta khó có thể theo kịp. “Sinh Phật bất nhị” chỉ ra rằng chúng sanh và Phật không phải hai thực thể riêng biệt, và Phật tánh hiện hữu trong mọi chúng sanh. Mỗi người đều có khả năng thành Phật, và khi đã thành Phật, họ vẫn tiếp tục sống như con người, thể hiện vẻ đẹp của sự hòa quyện giữa tâm linh và cuộc sống thường nhật.

Thich Nhat Hanh Tháng 3 2, 2006 Tiếng việt

Định Đề Giáo Lý Làng Mai 22

Năm thân của Phật và ý nghĩa của thân người

Bài giảng tập trung vào định đề thứ hai mươi hai về Phật thân, với năm thân được đề cập (có thể là sáu hay bảy). Thân thứ nhất là chúng sinh thân (thân người), điều kiện cần thiết để đạt được sự giác ngộ. Thân người có những ưu điểm về mặt sinh lý như bộ óc phát triển vượt trội và khả năng sử dụng hai bàn tay, giúp con người nhận biết được thân phận của mình - khác với loài vật sống chủ yếu bằng bản năng. Những thách thức mà con người đối mặt là cơ hội để vượt qua và chuyển hóa, từ đó đạt đến trạng thái giác ngộ.

Các khía cạnh khác của Phật thân

Thầy giải thích về thân ngoại thân (thuộc về không gian) - sự mở rộng của thân thể ra ngoài lớp da thịt, nơi ta nhận ra người khác cũng chính là mình; và thừa kế thân (thuộc về thời gian) - sự tiếp nối như đám mây và bông hoa. Pháp thân không chỉ là giáo lý mà là tình thương, niệm lực và định lực, thể hiện qua từng bước chân vững chãi. Pháp giới thân là nền tảng của mọi sự sống, nơi tất cả các pháp đều hòa quyện để tạo nên sự sống. Pháp giới tánh là bản thể của các pháp, có đặc tính không sinh, không diệt - đó chính là Niết Bàn. Thân người có nhiều khía cạnh sâu sắc, ít nhất là sáu thân: tận thân, thừa kế thân, thân ngoại thân, pháp giới thân và pháp giới tánh thân.

Vô ngã và thực hành

Bụt dạy rằng cái mà chúng ta gọi là “I am” chỉ là vọng tưởng. Vô ngã mang lại sự thảnh thơi, đau khổ phát sinh từ cái ngã. Khi thực hành thiền hành, tụng kinh đúng cách, chúng ta không còn là những cá thể riêng lẻ, mà trở thành một dòng sông, hòa nhập vào tâm thân. Năng lượng chánh niệm kết nối mọi cá thể thành một tập thể, tạo ra sự hòa hợp, giống như nguyên tử trong tia laser phát ra ánh sáng mạnh mẽ khi đi vào cùng một pha. Thực tập vô ngã không chỉ là triết lý mà là thực hành hàng ngày, giúp ta vượt qua mặc cảm và đạt được hạnh phúc thực sự.

Thich Nhat Hanh Tháng 3 23, 2006 Tiếng việt

Định Đề Giáo Lý Làng Mai 23

Con người là một dòng ngũ uẩn liên tục—không tách rời, luôn chuyển biến và tương duyên với các dòng hiện tượng khác—và không thể xem như một “cái ta” cố định. Giáo lý vô ngã, một trong ba pháp ấn (vô thường, vô ngã, niết bàn), khẳng định trong dòng hiện tượng không có thực thể bất biến. Năm uẩn—

  1. sắc
  2. thọ
  3. tưởng
  4. hành
  5. thức
    —phối hợp tuôn chảy như dòng sông; cái ngã bất biến chỉ là ảo tưởng.

Có ba quan điểm sai lầm về ngã và uẩn mà Bụt đã dạy:

  1. Đồng nhất ngã với uẩn (cho năm uẩn là cái tôi).
  2. Tách biệt ngã (cái tôi) và uẩn (cái tôi đứng ngoài sở hữu uẩn).
  3. Tương tại: trong ngã có uẩn và trong uẩn có ngã (hai thực thể tồn tại đan xen)—đây là cách nhìn sâu sắc nhất.

Khi quán chiếu vô thường và vô ngã, ta thấy “interbeing” (tương tức): không chỉ dòng năm uẩn liên tục mà các dòng hiện tượng hòa nhập với nhau như mây—mưa—sông, không có ranh giới tuyệt đối. Dù khoa học thần kinh hay tư duy hiện đại vẫn chưa tìm thấy một “tôi” bất biến, mọi tâm hành (ví dụ như buồn, giận, suy nghĩ) chỉ là các “sát-na” nối tiếp nhau, tạo nên ảo giác về chủ thể thường hằng. Vô ngã không phải triết lý khô khan mà là thực tập quán chiếu, giúp ta buông bỏ kiến chấp sai lầm, sinh khởi từ bi và trách nhiệm bảo vệ nhau cũng như trái đất.

Thich Nhat Hanh Tháng 10 5, 2006 Tiếng việt

Định Đề Giáo Lý Làng Mai 26

Trong Tăng thân thật sự hiện diện Phật thân và Pháp thân, ba thân quý giá – Phật thân, Pháp thân và Tăng thân – gọi chung là tam thân hay Tam bảo, hiện hữu ngay trong thân xác chúng sanh. Tìm cầu bên ngoài không phải tinh thần đạo Bụt; vượt qua ý niệm trong–ngoài, ta tiếp xúc được với tam thân ngay trong giây phút hiện tại. Pháp thân và Tăng thân hòa quyện tạo nên Phật thân, và trong Phật thân lại chứa đựng Pháp thân cùng Tăng thân. Người không có Tăng thân là người mồ côi trên đường tu học, bởi thiếu Tăng thân thì Phật và Pháp không hiện diện.

Tu tập, hay Bhavana, là gieo trồng hạt giống tốt trong tâm để ba thân hiển lộ như hoa trái nảy sinh từ đất mẹ. Giống khu vườn có hoa trái lẫn cỏ rác, tăng thân thật có hoa trí tuệ và cỏ phiền não; chuyển hóa cỏ rác thành phân xanh nuôi dưỡng hoa giác ngộ. Hành trì giới luật, niệm và thảnh thơi là nền tảng để biến tăng thân thành chân tăng, tạo tự do và hạnh phúc. Thước đo hưng thịnh không phải sản xuất hay tiêu thụ mà là hạnh phúc chân thật của cộng đồng tu học.

Danh sách ba yếu tố làm nên chất thánh nơi người tu

  1. giới – Sila đem lại tự do từng khía cạnh (Pratimoksha)
  2. thảnh thơi – an trú trong hiện tại không bị vướng mắc
  3. chánh niệm – ý thức từng bước chân, lời nói và việc làm
Thich Nhat Hanh Tháng 11 16, 2006 Tiếng việt

Định Đề Giáo Lý Làng Mai 30-31 - Pháp Là Đối Tượng Của Tâm Thức

Chi tiết buổi nói chuyện này diễn ra tại chùa Thể Nghiêm Xóm Mới vào khóa An Cư Kết Đông ngày 16 tháng 11 năm 2006, tập trung vào định nghĩa thứ 30 và thứ 31 của Pháp theo Làng Mai. Pháp được hiểu không phải là một vật cụ thể, mà là một quá trình, một sự kiện diễn ra liên tục và là đối tượng của tâm trí, gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Trong pháp số, có 18 giới gồm sáu căn cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và sáu trần tương ứng, dẫn tới sáu thức, tạo thành tập bát giới. Các pháp tồn tại độc lập nhưng đều là đối tượng của tâm thức. Thích Nhất Hạnh nhấn mạnh rằng pháp và ngã đều không tồn tại độc lập, chúng liên kết với nhau và đều là biểu hiện của tâm thức. Ông cảnh báo về sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng, gọi là “double grasping”, và rằng mọi thứ đều vô thường, giống như mộng, huyễn, bọt nước. Ông cũng chia sẻ rằng mọi hoàn cảnh đều phản ánh tâm thức của chúng ta và rằng môi trường sống ảnh hưởng tới trạng thái tâm hồn. Ông kết luận rằng mọi thứ đều liên kết và tương hợp, không tồn tại độc lập hoàn toàn.

Thich Nhat Hanh Tháng 1 19, 2007 Tiếng việt

Định Đề Giáo Lý Làng Mai 39

Duyên, thọ, uẩn, xứ, giới, thức được trình bày theo nhiều mô thức khác nhau, không cố định hay đối lập nhau mà chỉ là phương tiện tu tập. Chẳng hạn, duyên có thể được phân thành 4, 6, 9, 10 hay 12 duyên – trong đó 12 nhân duyên (từ vô minh đến hành, thức, danh-sắc…) chỉ là một mô thức quen thuộc. Thọ thường nói 3 loại (dễ chịu, khó chịu, trung tính) nhưng trong truyền thống Làng Mai thêm loại thứ tư – mixed feeling (vừa đau vừa sướng). Đối với uẩn, ngoài 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), có thể nói 2 uẩn (danh, sắc) hoặc 4 uẩn (thân, thọ, tâm, pháp), vì thức là nền tảng của các tâm sở.

Xứ và giới cũng linh động: 12 xứ (6 căn – nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; 6 trần – sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) khi kết hợp sinh ra 6 thức tạo thành 18 giới. Mở rộng thêm thức thứ bảy (Mạt-na), thứ tám (A-lại-da) và thứ chín (Bạch Tịnh) có thể dẫn đến 21, 24 hoặc 27 giới. Tương tự, phương pháp “16 hơi thở” (chia làm 4 hơi về thân, thọ, tâm, pháp) vốn để dễ nhớ, nay có thể mở rộng lên trên 20 hơi, thêm hơi thở về vô thường, vô ngã, vô dục, duyên sinh… và hơi thở tịch diệt (Niroda) nhắc ta về bản thể không sinh không diệt. Các mô thức này không phải chân lý tuyệt đối mà phục vụ cho sự thực hành, khuyến khích tính linh hoạt, sáng tạo và buông bỏ giáo điều.