ACKD 2003-2004

Publique
Organisés par Living Gems

Danh sách phát này được tạo tự động. Một số bài nói chuyện có liên quan từ chuyến tham quan hoặc tĩnh tâm này có thể bị thiếu.

Dernière mise à jour juillet 3, 2025
Thich Nhat Hanh novembre 30, 2004 Vietnamien

Thiết Lập Đường Dây Từ Bi

Ngày thứ 71 của khóa tu tại Xóm Thượng, chùa Pháp Vân, còn 19 ngày nữa kết thúc. Danh từ monastics được dịch là người xuất gia, là giới xuất gia. Lễ tự tứ sẽ làm vào ngày 15 Tây để sư thúc và các thầy Từ Hiếu tham dự. Trong danh sách giáo thọ tập sự thiếu ba tên đã công cử bổ sung:

  1. thầy Pháp Nhuận
  2. thầy Pháp Tư
  3. sư cô Hạnh Liên

Vấn đề đường dây điện thoại được nêu cấp bách: bánh xe xe đạp bị xẹp khiến thầy không kịp hướng dẫn thiền, không có đường dây từ bi để cầu cứu. Thầy nhắc thực tập Linh Chú thứ nhất Darling, I’m here for you bằng cách có mặt 24 giờ cho người gọi, kể cả khi nấu ăn, làm vườn, thay phiên tại mỗi xóm, sử dụng điện thoại như biểu tượng của lòng thương và sẵn sàng chia sẻ với nhau kế hoạch phục vụ

Chăm sóc thiền sinh và tiện nghi tăng thân còn nhiều thiếu sót: thiếu phòng restroom tại Xóm Hạ và Xóm Mới, thiếu common room cho thăm hỏi, trà bánh; phòng học và phòng ngồi thiền thường xuyên ồn ào. Thầy kêu gọi mỗi xóm:

  • tự đặt ra quy luật cư xá, ban giám viện chịu trách nhiệm duy trì thanh tịnh
  • thành lập ban “chăm sóc thiền sinh” để bù đắp thiếu tiện nghi bằng lòng ưu ái và sự ân cần
  • cải thiện hệ thống tổng đài nội bộ, chuyển máy ngoài giờ văn phòng cho đội “Activity Bell” chịu trực điện thoại
Thich Nhat Hanh novembre 23, 2004 Vietnamien

Anh Em Nhà Họ Điển

Anh em họ Điền sống với nhau rất hòa thuận cho đến khi người em thứ ba sinh lòng sợ bị thiệt thòi, lập tức xin chia của chung rồi đòi ở riêng. Ba anh em định chặt cây cổ thụ làm ba phần, nhưng đêm sau cây đã chết khô. Cây ngừng sống vì “đau trong tâm” trước ý định phân ly, tương tự nỗi đau của tình huynh đệ bị chia rẽ. Nhận ra điều đó, người em thứ ba cảm động, xin ở chung như cũ và từ đó ba anh em sống hòa thuận suốt đời.

Tiếng chuông báo cho lớp học bài học tình huynh đệ trong tăng thân: sự sợ hãi, ganh tị, tư tưởng “muốn là số một” là giống người vợ thứ ba, phá hoại tình đoàn kết. Để xây dựng tăng thân hùng mạnh, cần

  • phát hiện và tháo gỡ “kẻ thù trong lòng” (sợ hãi, ganh tị)
  • khuyến khích nhiều “hạt nhân” (nhóm nhỏ) hoạt động tự nhiên trên cơ sở tình huynh đệ
  • liên tục học hỏi, sáng tạo, thích ứng với hoàn cảnh mới mà không chấp thủ hình thức cũ

Việc đào tạo, xuất gia cũng phải vận dụng nguyên tắc này: người lớn (sư anh, sư chị, thầy…) đặt tình huynh đệ và trách nhiệm hướng dẫn lên trên quyền hành, chăm sóc, trao đổi thường xuyên với các em tập sự để các em tiến bộ từng ngày. Khi tình huynh đệ vững, tăng thân sẽ có niềm tin, hạnh phúc, sức sống bền lâu.

Thich Nhat Hanh mars 12, 2004 Vietnamien

Sự Tương Quan Luật Tạng Giữa Đồng Diệp Bộ Và Pháp Tạng Bộ

Pháp Tạng Bộ Dharmaguptaka và Đồng Diệp Bộ Tamraṣāṭīya (Theravāda/Sthavira) là hai phái anh em của Phân biệt thuyết bộ Vibhajyavāda, sinh ra khoảng 140 năm sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt. Pháp Tạng Bộ truyền vào Trung Quốc rồi Việt Nam, mang theo luật Tứ Phần mà hầu hết tăng nhân Việt Nam học và hành trì. Đồng Diệp Bộ truyền xuống Nam, Tamraṣāṭīya nghĩa là đồng (copper) + diệp (lá), vì y vàng đỏ tựa màu đồng, sau đổi danh là Thượng Tọa Bộ Theravāda. So sánh hai bộ luật cho thấy 20 kiền độ gần như identical:

  • 1 Thọ giới kiền độ – Đại kiền độ (Mahākhandhaka)
  • 2 Thuyết giới kiền độ – Bố tát kiền độ
  • 3 An cư kiền độ – Nhập vũ an cư (vassa)
  • 4 Tự tứ kiền độ
  • 5 Bị cách kiền độ
  • 6 Y kiền độ – Dược kiền độ
  • 7 Dược kiền độ – Kaṭhina Y kiền độ
  • 8 Kaṭhina kiền độ
  • 9 Câu-đàm-di kiền độ
  • 10 Campa kiền độ
  • 11 Kha-trách kiền độ – Yết-ma kiền độ
  • 12 Nhân kiền độ – Biệt-trú kiền độ
  • 13 Phú-tàng kiền độ – Tạp kiền độ
  • 14 Giá kiền độ – Giá thuyết giới kiền độ
  • 15 Phá-Tăng kiền độ
  • 16 Diệt-tránh kiền độ
  • 17 Tì-khưu-ni kiền độ
  • 18 Pháp kiền độ – Nghi pháp kiền độ
  • 19 Phòng-xá kiền độ – Ngọa-bọạ-cụ kiền độ
  • 20 Tạp kiền độ – Tạp sự kiền độ

Về nhận thức (pramāṇa), có bốn loại chính:
1 Hiện lượng (trực giác đúng là chân hiện lượng, sai là tợ hiện lượng)
2 Tỷ lượng (suy luận quy nạp/diễn dịch, đúng–sai)
3 Thánh giáo lượng (mặc khải của bậc thánh)
4 Phi lượng (tợ hiện/tỷ lượng sai lầm)

cùng hành lượng tức sự thực tập. Tăng thân lượng tổng hợp hiền lượng, tỷ lượng, thánh giáo lượng và hành lượng của cộng đồng tu học, là “ngọn đèn” duy nhất để nương tựa. Quy y tăng nghĩa là quy y tuệ giác chung không đối nghịch tuệ giác cá nhân, vì tuệ giác của mỗi hành giả là thành phần cấu thành tuệ giác tập thể của tăng thân.

Thich Nhat Hanh mars 2, 2004 Vietnamien

Luật Tạng Xích Đồng Diệp Bộ

Tạng luật Pali của Đồng Diệp Bộ gồm năm phần gọi là five books, trong đó hai phần đầu bàn về giới luật và chi tiết nghĩa các giới, phần năm là tóm tắt thực dụng. Phần ba gọi là Đại phẩm (Mahāvagga) gồm 10 kiền độ (Skandhaka, tiếng Pali: Khandhaka) và phần bốn là Tiểu phẩm (Cullavagga) gồm 12 kiền độ. Thuật ngữ Matrika (Ma-đắc-lặc-già) nghĩa là mẹ, gọi chung cho toàn bộ luật tạng như Vinaya Matrika, từ đó sinh ra các chương con là các kiền độ.

Đại phẩm Mahāvagga có 10 kiền độ:

  1. Mahākhandhaka (Đại kiền độ): 10 bài tụng kể Phật truyện, liên hệ thầy trò, truyền thọ giới lớn
  2. Uposatha Khandhaka (Bố-tát kiền độ): chuẩn bị tụng giới mỗi nửa tháng, duy trì thanh tịnh hòa hợp
  3. Vassapāṇāyaka Khandhaka (Nhập vũ an cư kiền độ): tổ chức an cư kết hạ mùa mưa
  4. Pavarana Khandhaka (Tự tứ kiền độ): nghi thức sám hối, cầu soi sáng sau an cư
  5. Bihāra-Thammā Khandhaka (Bì cách kiền độ): nguyên tắc sử dụng giày dép, vật dụng bảo hộ
  6. Bhesajja Khandhaka (Dược kiền độ): hướng dẫn dùng thuốc men, quy chế ẩm thực theo cuộc du hành Phật
  7. Kathina Khandhaka (Y Kathina kiền độ): thể thức nhận y mới sau mùa an cư
  8. Civara Khandhaka (Y kiền độ): quy định cúng dường, loại y, màu sắc, phân phối y
  9. Campeyya Khandhaka (Chiêm Bà kiền độ): chỉnh lý Yết-ma tại làng Champa, phương pháp tác pháp Yết-ma hợp pháp
  10. Kosambi Khandhaka (Câu-đàm-di kiền độ): ghi lại vụ chia rẽ Tăng đoàn Kosambi, khuyên hòa giải

Tiểu phẩm Cullavagga có 12 kiền độ:

  1. Kamma Khandhaka (Yết-ma kiền độ): các loại Yết-ma, xử tội tăng tàn, bất sám, bất xả ác kiến
  2. Parivāsa Khandhaka (Biệt trú kiền độ): biệt trú, Manatta, Marāja và phục hồi (rehabilitation)
  3. Samuccaya Khandhaka (Tập kiền độ): phương pháp xử lý tội phức tạp, che giấu tái phạm
  4. Samatha Khandhaka (Diệt tránh kiền độ): diệt trừ tranh chấp, cãi vã trong Tăng đoàn
  5. Kuddhaka-vatthu Khandhaka (Tạp sự kiền độ): 110 vụ phạm tội và giải quyết cụ thể
  6. Senāsana Khandhaka (Ngọa tọa cụ kiền độ): am thất, giường, gối, quản lý tài vật Tăng thân
  7. Saṅghabhedaka Khandhaka (Phá tăng kiền độ): chuyện Đề-bà-đạt-đa chia rẽ, mưu sát Phật ba lần
  8. Vatta Khandhaka (Nghi pháp kiền độ): 55 nghi thức sinh hoạt thường nhật như nhà ăn, khất thực, cầu tiêu
  9. Pātimokkha-ṭṭhapanā Khandhaka (Giá thuyết giới): tạm dừng tụng giới khi có người không thanh tịnh
  10. Bhikkhunī Khandhaka (Tỳ-kheo-ni kiền độ): thành lập Tăng-ni, Gotamī thỉnh xuất gia và Bát kỉnh pháp
  11. Pañcāsatikā Khandhaka (Ngũ Bách kiền độ): Kết tập lần thứ nhất (500 vị), đề xuất bớt giới
  12. Sattasatikā Khandhaka (Thất Bách kiền độ): Kết tập lần thứ hai (700 vị), nêu 10 việc phi pháp của miền Đông
Thich Nhat Hanh mars 2, 2004 Vietnamien

Quay Về Quê Hương Đích Thực

Ý tưởng về tăng thân đa văn hóa được khởi đầu bằng hình ảnh vòng tròn tượng trưng cho cộng đồng gồm người gốc Á và Âu-Mỹ, cùng chung khát vọng sống hạnh phúc, an lạc, hòa bình. Mỗi thành viên, dù gốc rễ Do Thái, Việt, Âu hay Mỹ, đều “đang đi tìm quê hương đích thực” vượt lên trên những tiện nghi văn hóa (thức ăn, ngôn ngữ, phong tục). Quê hương ấy chính là chốn an trú sâu sắc, đưa tới quả vị thứ hai trong tứ quả – quả vị đã về, đã tới – tức an lạc ngay trong giây phút hiện tại.

Các pháp môn thực tập nhấn mạnh ba bước tiến dần:

  1. An trú (peaceful abiding): ngồi yên, không ý muốn bỏ chạy.
  2. Đã về và đã tới (true home): mỗi hơi thở, mỗi bước chân đều trở về cội nguồn.
  3. Truyền thông và liên hệ: ôm ấp, chấp nhận bản thân trước khi thiết lập kết nối chân thành với huynh đệ.

Khi cá nhân trong tăng thân đều “đã về, đã tới”, tăng thân trở thành pháp khí: đồng hành giữa các thành phần văn hóa, giúp mỗi người vừa chấp nhận cội nguồn, vừa có thể hóa độ thế gian – dù ở Á hay Âu, trong đạo Phật hay trong đời sống xã hội – bằng trí tuệ “hiện pháp lạc trú” hơn là mong cầu một thiên quốc ở tương lai.

Thich Nhat Hanh février 27, 2004 Vietnamien

Văn Học Luật Tạng Của 6 Bộ Phái

Sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt, 100 năm sau Phật giáo chia thành trên 20 bộ phái, mỗi bộ phái có quảng luật riêng làm nền tảng văn học luật tạng. Cho đến nay chỉ còn sáu kho tàng luật bằng Pāli, Hán, Phạn và Tây Tạng có thể nghiên cứu được, gọi chung là canonical Vinaya literature. Phần thứ hai là Pratimokṣa sūtra (giới kinh), văn bản thuyết-tụng gồm dẫn nhập, tác pháp yết ma, tụng giới, câu hỏi và khích lệ. Ở Làng Mai đã tân tu giới kinh của Pháp Tạng bộ (Tứ Phần luật) với 250 giới tỳ kheo và 348 giới tỳ kheo ni. Phần thứ ba là non-canonical Vinaya literature (luật luận), gồm các chú giải và bình phẩm như Samantapāsādikā, Tỳ-nại-đa giới nhân duyên kinh…

  1. Sáu quảng luật bộ phái còn nguyên vẹn

    • Đồng Diệp bộ (Tāmraśāṭīya/Theravāda) bằng Pāli
    • Thập Tụng bộ (Dharmaguptaka) – gồm Tứ Phần luật
    • Ma Ha Tăng Kỳ bộ (Mahāsāṃghika)
    • Ngũ Phần bộ (Mahīśāsaka)
    • Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda)
    • Đại chúng bộ (Mūlasarvāstivāda)
  2. Mười một tác phẩm luật luận chú giải và bình phẩm trên Hán tạng

    1. Samantapāsādikā (Buddhaghosa)
    2. Thiện kiến luật Tỳ-bà-sa (18 quyển)
    3. Tỳ-nại-đa giới nhân duyên kinh (10 quyển)
    4. Tác-bà-da Tỳ-ni Tỳ-bà-sa (9 quyển)
    5. Căn bản Tác-bà-đa-bộ Luật nhiếp (14 quyển)
    6. Ưu-ba-ly vấn Phật kinh
    7. Phật A-tì-đàm kinh (2 quyển)
    8. Tỳ-ni mẫu kinh (8 quyển)
    9. Luật nhị thập nhị minh liễu luận
    10. Xá-lợi-phất vấn kinh
    11. Phật thuyết Bỉ-sô ngũ pháp kinh
Thich Nhat Hanh février 20, 2004 Vietnamien

Quảng Luật Trong Truyền Thống

Vinaya literature, gọi là Luật tạng hay Vinaya Pitaka, bao gồm ba phần chính
1 Quảng luật (Broad Vinaya)—phần căn bản của Luật tạng, chia làm ba:

  • Kinh phân biệt (Sūtra Vibhanga) giải thích bản chất và nguồn gốc từng giới;
  • Kiền độ (Skandhaka) gồm 22 chương quy chế sinh hoạt tăng đoàn (an cư, y áo, thuốc men…);
  • Phụ lục (Parivāra) 19 chương bàn chi tiết lặt vặt.
    2 Giới kinh và Yết-ma (Prātimokṣa Sūtra & Karma Vacana)—văn bản tụng niệm para-canonical, gồm lời tựa, tác pháp yết-ma, câu hỏi, lời kết và trích dạy của đức Thế Tôn
    3 Luật luận (treatises & commentaries)—những bộ sách giải thích và đàm luận về giới, về luật, do học giả và chư tôn đệ tử soạn

Phần Quảng luật được truyền ghi trong các tông phái chính sau:

  • Theravāda (Thượng tọa bộ / Đồng Diệp đồng Diệp bộ) – bản Pāli, có phiên La Mã (Oldenberg), Thái, Miến;
  • Sarvāstivāda (Hữu bộ) – Thập tụng luật 61 quyển chữ Hán (dịch năm 404);
  • Dharmaguptaka (Pháp Tạng bộ) – Tứ phần luật 60 quyển chữ Hán (dịch 410–413), gồm sáu mục: luật Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, 20 kiền độ, Tạp Pháp Tỳ Ni, Điều Bộ, Tỳ Ni Tăng Nhất;
  • Mahāsaṅghika (Đại chúng bộ) – Quảng luật hai phần Tỳ Khưu-Tỳ Ni và Tỳ Khưu Ni-Tỳ Ni (dịch 416–418);
  • Mahīśāsaka (Hóa Địa bộ) – Ngũ phần luật 30 quyển (dịch 423), chia năm: luật Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, chín phép thọ giới, bảy phép diệt tranh chấp & Yết-ma, tám pháp giải quyết phá hoại và các hội nghị giới luật.
Thich Nhat Hanh février 6, 2004 Vietnamien

Luật Tạng Và Quy Luật Các Giáo Phái Khác

Mùng 6 tháng 2 năm 2004 tại thiền đường Thái Bình Dương, tu viện Lộc Uyển, Hội họp miền Bắc California diễn ra trong ba bốn ngày mỗi năm với sự tham dự của sáu thầy sáu sư cô Việt Nam từ Lộc Uyển và rừng Phong. Phần lớn người tham dự là những vị tu 30–40 năm sống một mình, không có tăng thân nhưng vẫn không rớt, tạo niềm tin rằng đời sống xuất gia có thể vững bền dù phải đi làm và tự mình chiến đấu với khó khăn của thân và tâm. Sư cô Châu Nghiêm mong các hành giả Mai Thôn, Lộc Uyển được gặp gỡ những vị này để củng cố đức tin.

Trong Giới bổn của dòng Benedict có bốn loại xuất gia:

  1. Cenobite (viện sĩ): sống trong đan viện, tu học theo một quy luật và dưới quyền một đan phụ
  2. Anchorite hay hermit (biệt sĩ, ẩn sĩ): đã thử luyện lâu ngày trong đan viện, nay sống một mình và tự chiến đấu với tính hư của xác thịt, tư tưởng phóng túng nhờ ơn Chúa
  3. Sarabaite (đan sĩ tự tu): không có quy luật, tính nết mềm như chì, thỏa dục vọng, gọi điều mình thích là thánh, điều mình không ưa là bất chính
  4. Gyrovague (du tu): lang thang tỉnh nọ trấn kia, trú ba bốn ngày mỗi nơi, nô lệ cho ý riêng và dục vọng, xấu hơn Sarabaite

Kinh nghiệm Cơ Đốc và Phật giáo đồng nhất quan trọng của tăng thân: sự nâng đỡ, soi sáng và niềm hỷ lạc lớn từ việc tham dự vào sự nghiệp Bát Nhã của Đức Thế Tôn. Các thầy thượng tọa, ni sư Việt Nam tu lâu năm qua sống chung với Làng Mai là chỗ dựa quý giá cho tăng thân Tây phương, nhất là những người trẻ còn băn khoăn về khả năng đứng vững suốt đời xuất gia. Việc chia sẻ kinh nghiệm, pháp đàm và bài học Giới bổn Benedict giúp mọi người nhận ra vị trí mình trong tăng thân và tìm thấy niềm tin – sức mạnh để không rời bỏ con đường chánh pháp.

Thich Nhat Hanh janvier 30, 2004 Vietnamien

Tam Tụ Tịnh Giới

Chỉ là dừng lại, refrain, don’t do it; khi chỉ thì là trì – giữ gìn cho nguyên vẹn (trì bát, trì giới); nếu không chỉ mà tác – làm – thì sẽ phạm giới, làm cho hư nát. Đối với những điều không nên làm, ta tuân theo “chỉ trì, tác phạm”: không giết, không trộm, không tà dâm… thì chỉ (ngưng) sẽ trì được giới; làm (tác) là phạm. Ngược lại, với những việc phải làm, “chỉ phạm, tác trì”: ví dụ tụng giới, đi an cư, cứu giúp người bị nạn… nếu chỉ (ngưng) thì phạm, phải tác mới trì được giới.

Pháp tu giới mở rộng thành ba chùm gọi là Tam Tụ Tịnh Giới:
1 Nhiếp Luật Nghi giới – don’t do (chư ác mạc tác) và giữ luật nghi, uy nghi
2 Nhiếp Thiện Pháp giới – làm những điều lành (kusala), can thiệp khi thấy khổ đau
3 Nhiêu Ích Hữu Tình giới – đại bi, vươn tay xa cứu độ và giảm khổ mọi loài

Bộ giới truyền thống của các tỳ kheo là 250 (Pháp Tạng bộ), tỳ kheo ni 348, Theravāda (Xích Đồng Diệp) 227; con số tăng dần khi cộng đồng nhận thấy tệ đoan mới cần thiết để bảo hộ tăng đoàn. Đức Thế Tôn luôn linh động, tu chỉnh giới luật theo hoàn cảnh – ví dụ cho phép mang thức ăn khô khi phải vượt sa mạc, cho phép nấu khi đói khát, dùng tịnh nhân giữ hiện kim.

Một sa di ghi nhận… cảm giác cô đơn, mong được là chính mình trong dòng mạch tu tập. Bạn ấy chia sẻ chỉ học Pháp để hiểu rõ hơn, không phải vì “bị ép,” và nỗ lực tự tin phát triển tài năng riêng.

Thich Nhat Hanh janvier 16, 2004 Vietnamien

Giữ Giới Là Thực Tập Chánh Niệm

Chuông thỉnh giờ ngồi thiền buổi sáng vang hồi chuông lớn nửa giờ trước giờ thiền chính thức, đánh dấu con đường lên thiền đường trở thành thiền đường và hoàn toàn cấm ô tô, kể cả xe golf, đi vào trong thời gian từ 2:15 đến 2:30 sáng và chiều, tổng cộng gần 5 giờ car-free mỗi ngày. Các ban chăm sóc và giáo thọ có trách vụ chặn đường, đặt Bồ tát trấn đường để thiền sinh khách cũng ý thức tuân thủ quy luật nhằm bảo vệ không gian thiền hành thanh tịnh và tăng thêm niềm vui cho cả tăng chúng lẫn thiền sinh khách.

Sinh hoạt trong tăng thân luôn đề cao tinh thần “một giọt nước trong dòng sông”: ngồi thiền, nghe pháp, ăn cơm, tụng kinh đều phải nhập vào đại chúng, không tách biệt. Tăng thân không phải một chùa Việt Nam bình thường mà là nơi gieo hạt giống chánh pháp vào văn minh Tây phương, cần biến đổi hình thức trang nghiêm, lễ nghi, cách tụng, ăn, đi đứng cho phù hợp căn cơ người Tây phương, nhằm đối thoại và xua tan những lớp “rác” của khổ đau, thất vọng, chán nản do văn hóa hiện đại tạo ra.

Một số nguyên tắc tu chỉnh giới luật để phục vụ hai mục đích bảo hộ tăng đoàn và đem lại thảnh thơi cho hành giả:
1 Giới phải là phương tiện chánh niệm, không thành giới cấm thủ kiến hay lễ nghi hình thức
2 Giới cần thích ứng với hoàn cảnh (từng bước biệt giải thoát, không cố định mọi nơi)
3 Giới chế ra để đối trị tệ đoan, có thể tu chỉnh, bổ sung hay bãi bỏ khi không còn phù hợp
4 Giới bản Tân tu gọi là Khắp chốn thảnh thơi (Prātimokṣa), nghĩa là từng bước, từng chỗ đều đưa đến tự do và an lạc

Thich Nhat Hanh janvier 9, 2004 Vietnamien

Thiết Lập Buổi Họp Hạnh Phúc

Hồi sáng thiền hành trên con đường thơm hương núi rừng giữa trăng và núi, chỉ cần hai chân, hai lá phổi và chánh niệm là có thể bước vào tịnh độ ngay trong giây phút hiện tại. Thiền và tịnh độ hòa làm một; không phải chờ tương lai mà thiền hành từng bước chính là đi trong tịnh độ hiện tiền. Bài hát Nương tựa A Di Đà với sáu chữ kèm dấu phết được dùng để đi thiền hành, nhịp ba bước thở – nói lên niềm vui và khả năng nuôi dưỡng hạnh phúc ngay nơi thân tâm.

  1. Nương tựa A 2. Di Đà phết 3. Nơi bản môn mầu nhiệm phết 4. Con dốc về, con dốc lòng quay về phết

Xây dựng tăng thân bắt đầu từ chính niềm vui và liên kết anh em trong buổi họp hạnh phúc mỗi tuần. Đây không phải họp giải quyết công việc mà là mốc để nuôi dưỡng tình huynh đệ, nâng cao phẩm chất hạnh phúc, tránh bẫy hình thức. Sa di, sa di ni, tỳ kheo, tỳ kheo ni và cư sĩ mỗi thành phần đều có quyền tổ chức và tham dự – kể cả ngày trưởng tịnh (Uposatha) để thanh tịnh giới thân, duy trì nề nếp sinh hoạt và bốn chúng vững mạnh. Đi nhóm năm người, bảy người, mười người trong tịnh độ không phải mơ tưởng mà là thực tại đang sống.