Mặc cảm

Công khai
Tuyển chọn bởi Tri Duong
Cập nhật lần cuối Tháng 3 17, 2026
Thich Nhat Hanh, Sangha Member, Monastic, Thầy Pháp Lưu Tháng 10 9, 2011 Tiếng anh

Questions and Answers: Stepping Into Freedom—Savouring Life Retreat

In this session of questions and answers the following questions were asked:

By the children:

  • How do you control the urge to hit when you are very upset?
    -Do you ever get frustrated with yourself?
  • How can I not suffer when people are not being good to this world?

By the teens and young adults:

  • How old were you when you decided to become a monk and what commitments are required?
  • What should I do with strong positive and negative energy?
  • What does it mean to go home to yourself?

By the adults:

  • Can we communicate with loved ones who have passed away?
  • Does taking the Five Mindfulness Trainings clean away past negative actions?
  • How can I handle the discouragement and isolation caused by comparing my practice to Thầy?
  • What to do when a commitment made from unclear understanding causes suffering if broken?
  • How can the impulse to protect others be reconciled with the practice of non-discrimination?
  • How can I reconcile feeling the presence of Jesus with what I was taught to believe about other religions?

During this session, Thầy Pháp Lưu introduces Wake Up, a movement of young practitioners aged seventeen to thirty-five dedicated to bringing mindfulness into their daily lives and local communities. He highlights the synergy between the youth and the older Sangha as the movement expands through university tours across the U.K. and the United States.

This Questions and Answers session was organised during the Stepping Into Freedom—Savouring Life retreat in the year 2011. Thầy offered this session at Blue Cliff Monastery, Pine Bush, New York, the United States.

Thich Nhat Hanh, Sangha Member Tháng 1 1, 2002 Tiếng việt

Khoá Tu Tiếng Việt Questions and Answers

Chúng ta cùng nhau tụ họp tại Làng Mai, Pháp Quốc vào ngày 3 tháng 5 năm 2002. Buổi nói chuyện bắt đầu bằng Lễ truyền giới tiếp nhận các thành viên mới vào dòng tu Tiếp Hiện, nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Làng Mai. Sau đó là phần vấn đáp về những khó khăn và hạnh phúc trong sự thực tập.

Các câu hỏi được đặt ra trong buổi vấn đáp bao gồm:

  • Làm thế nào để chuyển hóa tập khí cờ bạc của người hôn phối khi họ hứa sửa đổi nhưng rồi lại tái phạm khiến gia đình đau khổ?
  • Làm sao để hai chị em có thể sống bên nhau mà không gây lộn khi cứ gặp nhau đến ngày thứ ba là xung đột, dù đã cố gắng áp dụng phương pháp làm mới?
  • Làm thế nào để rút lại lời thề tuyệt giao với gia đình đã thốt ra trong lúc giận dữ và hàn gắn lại tình cảm với người thân?
  • Làm sao để dùng mắt thương nhìn cuộc đời và ôm ấp được những khuynh hướng chính trị, xã hội phức tạp cũng như những khủng hoảng đã qua?
  • Làm thế nào để người hôn phối coi trọng thân quyến của hai bên gia đình giống nhau?
  • Phải làm gì để giúp mẹ chuyển hóa nỗi sợ hãi và bệnh mất ngủ bắt nguồn từ một sự kiện mê tín trong quá khứ liên quan đến chiếc khăn trải bàn màu trắng?
  • Làm sao để viết thư hàn gắn tình chị em sau những hiểu lầm và tránh né trong quá khứ, khi người chị vẫn còn giận và không hồi âm?
  • Có phương pháp nào để ôm ấp những cảm xúc thương xót quá mạnh khi làm công tác xã hội để không bị nghẹn lời và tiếp tục được công việc?
  • Làm cách nào để có thể đi xuất gia mà không làm khổ người bạn gái đang rất cô đơn và sợ mất mình?
  • Có nên tiếp tục đi dự những buổi họp mặt gia đình khi thấy không khí ở đó chuyển sang hướng trụy lạc và đem lại khổ đau cho mình?
Thich Nhat Hanh, Sangha Member Tháng 2 18, 2001 Tiếng việt

Những câu hỏi mà chúng ta tự đặt ra trong khi thiền định

Chúng ta đang ở tại chùa Pháp Vân, Thiền xá Thượng của Làng Mai vào ngày 18 tháng 2 năm 2001, kết thúc mùa an cư kiết đông 2000-2001. Trong khi ngồi thiền, có thể làm cho hơi thở vào trở nên một câu hỏi và hơi thở ra trở thành một câu trả lời để thiết lập sự có mặt trong giây phút hiện tại.

Dưới đây là những câu hỏi có thể dùng để quán chiếu trong khi thực tập:

  1. Ta có đích thực có mặt hay không?
  2. Hiện giờ ta có thảnh thơi không?
  3. Trong cơ thể ta có sự thảnh thơi, buông thư không?
  4. Hiện bây giờ tâm ta có thảnh thơi, vướng bận chuyện gì không?
  5. Ta có biết là ta đang có sự may mắn được ngồi với tăng thân không?
  6. Ta có biết rằng sự vật là vô thường không?
  7. Mình có biết rằng mình là vô thường, đang thay đổi không?
  8. Mẹ mình có vô thường không?
  9. Thầy mình có vô thường không?
  10. Mình có thấy được cái tính vô ngã trong con người của mình không?
  11. How do I feel right now?
  12. Tôi đang làm gì đó?
  13. What is my original aspiration?
  14. Who am I?
  15. Mình có tiếp xúc thiệt được với tự tính vô ngã không?
  16. Câu hỏi nào cần phải hỏi bây giờ?
  17. Bây giờ mình buông bỏ cái gì được đây?
  18. Làm cái gì bây giờ mà có thể nuôi dưỡng được?
  19. Cái tôi đang làm đây có đang nuôi dưỡng tôi hay không?
  20. Tôi có đang nhìn bằng mắt Bụt không?
  21. Tôi đang suy nghĩ gì?
  22. Tôi đang tưới hạt giống nào đây?
  23. Tôi có tự do hay không?
  24. Tôi đang thở như thế nào?
  25. Tôi có thể sống mà không sợ không?
  26. Mình có đang chánh niệm thật sự hay không?
  27. Mình đang có cơ hội nào đây?
  28. Mình được làm bằng những yếu tố nào?
  29. Tâm hiện giờ của tôi là tâm tỉnh thức hay là tâm mê mờ?

Sau đó là các câu hỏi để nhìn sâu vào những vết thương quá khứ nhằm chuyển hóa và trị liệu:

  1. Người làm cho mình khổ có hạnh phúc không?
  2. Người đó đã được đối xử như thế nào khi người đó là một em bé?
  3. Người đó đã gặp những cái khó khăn, những cái rủi ro như thế nào?
Thich Nhat Hanh Tháng 2 5, 2012 Tiếng việt

Quán Sở Duyên Duyên Luận 2

Năm 2012 tại Xóm Thượng Làng Mai, tuyết rơi nhẹ, pháp thoại khởi đầu với hình ảnh chiếc nồi chưa có vung đậy – ẩn dụ cho sự trống trải, sợ hãi và khao khát che chở khởi sinh từ thuở ấu thơ khi em bé chưa biết tự chăm sóc. Chúng ta thường đi tìm “cái vung” bên ngoài – người yêu, bạn bè, cha mẹ – để mong được bình an, nhưng khi “vung” không phải là nguồn che chở thật sự, những rối loạn bên trong càng thêm dồn nén. Nhận ra em bé bất lực trong ta vẫn còn sống, mang theo nỗi sợ nguyên thủy, là bước đầu để không mãi vác theo tâm lý lệ thuộc.

Thực tập chánh niệm với linh chú đầu tiên I am here for you, tức ta có mặt cho chính mình, là cách để trở thành “chiếc vung” cho bản thân. Khi thở, đi, ngồi trong chánh niệm, thân–tâm hòa nhất như, ta tiếp xúc và nuôi dưỡng những yếu tố màu nhiệm đang hiện hữu, đủ khả năng ôm ấp, nhìn sâu và chuyển hóa lo âu, buồn khổ. Nhờ nương tựa tăng thân – một đoàn thể tu học với niệm, định, tuệ – ta không đóng cửa ôm giữ nỗi đau đơn độc mà đón nhận niềm vui, hạnh phúc và năng lượng tập thể, để từng tâm hành được chữa lành.

Quán chiếu sâu vào mọi hiện tượng cho thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều do duyên sinh, không có tự tánh cố định. Truy tìm “thực tại tối hậu” trong nguyên tử, năng lượng hay đối xứng cũng chỉ là điều kiện (sở duyên), không phải đối tượng nhận thức; bên cạnh đó năm căn không nhận biết được bốn chất căn bản. Các yếu tố cực vi, dù có thật, chỉ là điều kiện cho tâm tạo dựng – tất cả là duyên sinh, vô thường, giả huyễn. Thấu rõ vô tướng trong tướng sanh, diệt, có, không sẽ dẫn đến giải thoát khỏi khổ đau.

Thich Nhat Hanh Tháng 9 21, 1997 Tiếng việt

Public Talk San Jose

Ở Làng Mai chúng tôi chỉ hát những bài nhạc tự sáng tác, không hát những bài đứt ruột ngoài đời. Đức Phật dạy không theo đuổi quá khứ hay tương lai vì quá khứ đã qua, tương lai chưa đến; chỉ có khoảnh khắc hiện tại, nhận biết bằng trái tim và tâm hồn, mới cho ta cách sống một mình an lạc. Sư chú Michael và cô bạn gái từng sống hạnh phúc ở ngoại quốc, trở về Làng Mai sau khi đọc sách Peace is Every Step, rồi cùng xuất gia với tâm Bồ Tát, tình thương trong sáng hơn, mang hạnh phúc đến nhiều thiền sinh. Hiện nay đã có đoàn thể xuất gia gốc Âu-Mỹ từ 25 quốc gia, tạo chỗ đứng vững chắc cho Phật giáo phương Tây.

Đại chúng tụng bài dâng hương và Tâm Kinh Bát Nhã bằng tiếng Anh, vì thiền sinh đa quốc tịch. Trong phần tụng, Bồ Tát Quán Thế Âm, nhờ tuệ giác Bát Nhã, thấy rõ năm uẩn trống không:

  1. sắc tức là không, không tức là sắc
  2. thọ, tưởng, hành, thức cũng không khác không
  3. không sinh không diệt, không ô nhiễm không thanh tịnh, không tăng không giảm
    Tiếp đến là thần chú cao quý nhất Gate Gate Paragate Parasamgate Bodhi Svaha, mời gọi bước qua bờ giác ngộ.

“Tìm Nhau” là bài hát về mối tình đầu với Thế Tôn, khát vọng đi tìm từ thuở ấu thơ, qua ngục A Tỳ, cuối cùng nhận ra Ngài luôn hiện diện, bình an không sinh không diệt. Bài được nhạc sĩ Anh Việt phổ nhạc từ thơ Thầy, in trong tuyển tập Những Giọt Không kỷ niệm 15 năm Làng Mai, ra mắt sau sáu tháng hiệu đính.

Thich Nhat Hanh Tháng 1 16, 1997 Tiếng việt

Hơi Thở Chánh Niệm

Chánh niệm là sự có mặt đích thực trong giây phút hiện tại, và hơi thở chánh niệm là phương pháp cốt lõi để nuôi dưỡng chánh niệm bền lâu. Phương pháp đó được Đức Thế Tôn dạy trong kinh Anapanasati (An Ban Thủ Ý), ghi chép trọn vẹn trong tạng Pali và tìm được tương đương trong Tạp A Hàm của Hán tạng. Qua gần 2.600 năm, truyền thống Nam tông (Nikāya) và Bắc tông (Āgama) vẫn giữ nguyên vẹn giáo lý quán niệm hơi thở, chứng tỏ tính bất hoại và giá trị vượt thời gian của pháp môn này.

Thực tập hơi thở có ý thức giúp “ở nhà” với năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), chăm sóc thân tâm như một vị vua lo việc triều chính. Khi có chánh niệm qua hơi thở, ta không để mặc đau khổ, giận hờn, lo âu bùng phát vô tổ chức, mà đón nhận, nhận diện và ôm ấp chúng như bà mẹ vỗ về con trẻ. Từ giây phút đứng chờ nghe chuông, ngồi ăn cơm, bước thiền hành đến lúc thiền tọa, chỉ cần thở vào – thở ra với nhận diện đơn thuần về hơi thở, thân và tâm liền hòa hợp, khơi dậy an ninh và hạnh phúc nội tại.

Quy trình thực tập niệm hơi thở

  • Nhận diện hơi thở vào, hơi thở ra (sở niệm – năng niệm) mà không khen chê, chỉ thấu rõ phẩm chất hơi thở (ngắn/dài, thô/tế, ồn/êm)
  • Để cho niệm tự phát sinh và nối tiếp (thứ đệ duyên) trên nền hạt giống chánh niệm sẵn có (nhân duyên) cùng sự hỗ trợ của tăng thân, tiếng chuông, môi trường tu tập (tăng thượng duyên)
  • Duy trì liên tục sự nhận diện đơn thuần để thân tâm nhất như, “ở lại nhà” chăm sóc năm uẩn, chuyển hóa khổ đau và nuôi dưỡng hạnh phúc vượt thoáng thời gian
Thich Nhat Hanh Tháng 6 11, 1995 Tiếng việt

Bồ đề tâm trí tinh ý

Tâm của chúng ta có ba khía cạnh: trí tuệ, tình cảm, và ý chí. Trong Đạo Bụt Đại thừa, danh từ sơ tâm rất quan trọng. Đó là cái tâm buổi ban đầu của người tu, một sự tuôn trào của nguồn năng lượng có sẵn trong chiều sâu của tâm mình. Cái tâm đó gọi là tâm Bồ đề, tức là ý chí muốn đạt tới sự hiểu biết và giác ngộ. Vì chúng sanh khổ đau là tại vì không có hiểu biết, nên hiểu biết là chìa khóa của sự giải thoát. Nhưng trong Đạo Bụt, cái biết là nền tảng của cái thương. Càng hiểu biết thì càng có nhiều thương yêu. Vì vậy, tâm Bồ đề cũng là tâm hiểu biếttâm thương yêu. Cái muốn sâu sắc nhất của một con người là muốn được hiểu và muốn được thương.

Sơ tâm cũng là mối tình đầu của mình. Nếu cái sơ tâm bị mòn mỏi, bị héo hắt rồi thì không còn có hy vọng nào nữa. Sự thực tập hằng ngày phải có tác dụng nuôi dưỡng sơ tâm. Một người tu giỏi là phải hiến tặng được trái hiểu biết và trái thương yêu. Mà hoa trái đó làm sao có được nếu người tu không có thực tập chánh địnhchánh niệm. Bụt dạy rằng:

  1. Do niệm mà có định.
  2. Do định mà có tuệ.

Khu vườn mà mình phải chăm bón trong đời sống hằng ngày là khu vườn chánh niệm. Sống chuyên chú trong niệm và trong định thì một ngày nào đó tâm mình nó sáng ra, gọi là minh tâm. Khi đó, ta có thể thấy được trong chiều sâu của sự vật, gọi là kiến tánh. Nếu không có khu vườn của chánh niệmchánh định thì không bao giờ có thể có hoa trái của hiểu biết và của thương yêu.