PT Cho Chúng Xuất Sĩ

Công khai
Tuyển chọn bởi Living Gems

Danh sách phát này được tạo tự động. Một số bài nói chuyện có liên quan từ chuyến tham quan hoặc tĩnh tâm này có thể bị thiếu.

Cập nhật lần cuối Tháng 7 3, 2025
Thich Nhat Hanh Tháng 2 7, 2006 Tiếng việt

Bản Hoà Tấu Tăng Thân

Thực tập được ví như một bản nhạc, đòi hỏi sự hòa điệu giữa sáu yếu tố của tăng thân (Lục Hòa) và bên trong mỗi người (năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Khi ăn cơm hay ngồi thiền bằng chánh niệm, toàn bộ tế bào, tâm hành trong thân tâm đều tham dự, tạo ra một nghệ thuật nuôi dưỡng, chuyển hóa và mang lại hạnh phúc cho bản thân và đại chúng. Hơi thở, bước chân như những nhạc trưởng điều phối tất cả đi cùng một “dòng sông” – trạng thái không còn phân tán, thất niệm mà là tập khí tốt, một nếp sống có chánh niệm.

Việc tuân thủ tiếng chuông (hiệu lệnh chánh niệm) và quy củ giờ giấc không chỉ là hình thức tổ chức mà là tự giác từ trái tim lý tưởng mỗi người. Nếu:

  • nghe ba tiếng chuông là dừng mọi nói năng, suy nghĩ
  • đi tới chỗ hẹn ngay tức khắc
  • không để cần sự nhắc nhở từ thầy hay sư anh
    thì mỗi thành viên tự nhiên hòa nhập vào bản hợp tấu chung, làm gương cho cư sĩ, thúc đẩy tăng thân vững mạnh.

Năm nay tăng thân có nhiều cơ hội thực tập và biểu lộ bản nhạc chung:

  1. Khóa tu 21 ngày theo kinh An Ban Thủ Ý
  2. Khóa mùa hè (summer opening) với bạn trẻ từ 40–50 nước
  3. Khóa chuyên đề neuroscience về ký ức, tập khí và A-lại-da thức
  4. Đề xuất mở rộng An Cư thêm một tháng theo kinh nghiệm Đức Thế Tôn với 1.000 xuất gia
    mọi sinh hoạt – ăn bánh tét, Christmas, New Year, Tết – đều trở thành nhân bánh, nuôi dưỡng và hoàn chỉnh bản hòa tấu tăng thân.
Thich Nhat Hanh Tháng 1 10, 2006 Tiếng việt

Tay Trong Tay Chung Một Con Đường

With hearts established in mindfulness, the English rendition of Chúng con hiện tiền tâm thanh tịnh was chanted to invoke support from the fourfold Sangha, the three jewels, holy beings, and protection from eight misfortunes and three paths of suffering. Two couplets were composed for tu viện Bát Nhã to remind practitioners that

  • Tịnh độ thích ý rong chơi, người chẳng tìm cầu chi nữa
  • Bản môn bây giờ an trụ, ta há theo đuổi gì thêm
    expressing that each walking step, each of the 24 hours, can already be Pure Land practice, free of seeking and fully present.

Further inscriptions propose that individual effort creates collective refuge:
1 Giọt nước thành dòng sông / Thanh thản người về chơi biển lớn
2 Bước chân nên cõi tịnh / Thảnh thơi ta lên dạo đồi cao
3 Một lá ngô đồng rơi / Ngàn hoa thủy tiên hé, đất cứ theo trời hát khúc vô sinh
these six lines evoke a body of practice that, like a Bose-Einstein condensate or laser, transforms many into one unified field of energy capable of cutting through afflictions.

The passing of sư em Mỹ Nghiêm at age 20—after just over one year of monastic life—illustrated the power of sangha care and practice: daily visits, healing chants, meals, gentle massage and joint meditation helped her meet death with ease and a final smile. Her departure became both a testament to genuine huynh đệ tình and an inspiration for living each moment fully in the refuge of the Three Jewels.

Thich Nhat Hanh Tháng 12 20, 2005 Tiếng việt

Cái Đẹp của Nếp Sống Bình Dị

Ba xóm Làng Mai hình thành không gian an lạc đối lập với thế giới đầy tranh chấp và bạo động, nơi thiền sinh tìm về kiếm chút bình an, ngồi ăn cơm im lặng và cảm nhận tình huynh đệ. Thầy ghi nhận: sự thực tập chánh niệm và oai nghi trong bốn tư thế đi, đứng, ngồi, nằm tạo ra năng lượng bình an, khắc sâu trong não bộ và tế bào, trở thành món quà tâm linh cho tổ tiên, cho con cháu và cho mọi người trên bước chân đời thường.

Nhìn lại hơn 25 năm đầu tiên tại Làng Mai, các xóm Mới, Thượng, Hạ chỉ có đường sình lầy, không ghế, không sưởi trung tâm, chỉ băng dài và lò đốt củi, bữa ăn nghèo nàn, một hũ muối mè hay vài viên kẹo sô-cô-la là quý. Thầy tự giặt áo, viết Đường xưa mây trắng trong một buồng lạnh với tay hơ lò sưởi, mỗi ngày 2–3 giờ viết là một giờ tâm sự với Đức Thế Tôn. Dầu điều kiện đã khá đầy đủ hôm nay, Tứ Niệm Xứ và giới luật vẫn đòi hỏi sống “tam thường bất túc” – đủ cơm áo, đơn giản và khiêm tốn – để bảo trì nếp sống thanh bần, giúp đời theo tinh thần Bồ đề và tiếp nối sự nghiệp của Thầy và Tổ.

1 Bốn tư thế hành trì oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm đều phải duy trì chánh niệm
2 Chánh niệm khởi sinh năng lượng bình an, khắc sâu thành huân tập trong não bộ, tế bào
3 Giới luật là nền tảng cho an lạc, hạnh phúc và chức năng làm gương cho thiền sinh khác

Thich Nhat Hanh Tháng 11 22, 2005 Tiếng việt

Hệ Thần Kinh và Sự Truyền Thông

Trong cơ thể tồn tại hệ thần kinh trung ương gồm não bộ và cột sống, được nuôi dưỡng bởi liquide céphalo-rachidien trong các ventricule, và hệ thần kinh ngoại biên với 31 cặp dây thần kinh tỏa ra theo thứ tự:

  • 8 cặp cervical (cổ)
  • 12 cặp thoracic (lưng)
  • 5 cặp lumbar (thắt lưng)
  • 5 cặp sacral (xương cùng)
  • 1 cặp coccygeal (xương cụt)

Thông tin cảm giác từ các receptor được truyền qua afferent vào trung ương, xử lý qua đường synapse liên kết neuron cảm giác, neuron trung gian và neuron vận động, rồi đáp ứng qua đường efferent tới effector (cơ quan vận động) theo reflex arc. Tốc độ truyền tin lên đến một phần ngàn giây, đảm bảo phản xạ nhanh và duy trì homeostasis.

Trong cộng đồng tu học, tương tự cần xây dựng hệ “thần kinh” trung ương (ban quản chúng, ban chăm sóc, hội đồng giáo thọ) và ngoại biên (tăng, thiền sinh, cư sĩ) để mọi khó khăn, khổ đau từ tế bào cá nhân được báo cáo hướng tâm kịp thời, và quyết định hay hỗ trợ được truyền ly tâm nhanh chóng. Nội bộ mỗi cá nhân cũng phải có hệ thống miễn dịch tinh thần—hộ trì sáu căn (nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý)—để phòng hộ trước xúc tác tiêu cực, đồng thời thực tập Như Lý Tác Ýquán chiếu nhằm ngăn phát khởi Phi Như Lý Tác Ý.

Thich Nhat Hanh Tháng 10 6, 2005 Tiếng việt

Thực Phẩm Của Những Tế Bào

mỗi tế bào trong cơ thể được phân công chuyên môn – như tế bào thần kinh truyền thông tin, tế bào phổi hô hấp, tế bào gan chuyển hóa độc tố – đồng thời luôn tự nuôi dưỡng mình qua hoạt động của hai loại phân tử protein trên màng tế bào:

  1. receptor protein tiếp thụ thông tin từ môi trường bên ngoài và bên trong
  2. effector protein dựa trên dữ kiện đã nhận để phát sinh xung lực vận động, bảo vệ và nuôi dưỡng tế bào

bên trong tế bào là cytoplasm chứa nucleus với hệ nhiễm sắc thể (chromosome, gene) mang chủng tử di truyền, cùng với các organelle như mitochondria sản sinh năng lượng. mọi cơ quan, ngay hệ thần kinh trung ương và ngoại biên (sympathetic, parasympathetic) đều phát triển từ một tế bào nguyên thủy mang đầy đủ khả năng

tương tự, mỗi thành viên xuất gia trong tăng thân khi đảm trách một công việc chuyên môn – nấu ăn, xây cất, tổ chức khóa tu… – phải không ngừng tự nuôi dưỡng qua thiền tọa, thiền hành, hơi thở chánh niệm, duy trì uy nghi tươi mát để không “chết với tư cách một tế bào của tăng thân”

trong khóa an cư mùa đông sắp tới, tăng thân sẽ:

  1. ôn lại lập trường giáo lý Làng Mai (Dị Bộ Tông Luân Luận)
  2. chia thành nhóm chuyên môn – thiếu nhi, hậu cần, pháp đàm… – ghi chép, hệ thống hóa kinh nghiệm hơn 20 năm tổ chức
  3. truyền thông liên tục qua pháp đàm, làm việc chung, và ngay cả trong sinh hoạt hàng ngày nhằm xây dựng một cơ thể tăng thân khỏe mạnh, hài hòa, an lạc
Thich Nhat Hanh Tháng 10 5, 2005 Tiếng việt

Tăng Thân Là Một Cơ Thể

Năm con mắt gồm

  • Nhục nhãn (mắt thịt, mắt trần, mắt bụi) không thấy xa, thấy sâu
  • Thiên nhãn, Pháp nhãn, Phật nhãn để nhìn rõ bản chất
  • Tăng nhãn: đóng góp mới của đạo tràng Mai Thôn trong 2.500 năm Phật giáo

Dưới con mắt khoa học, mọi sinh vật – từ đơn bào xuất hiện sau 3 tỷ năm cho đến đa bào sau 750 triệu năm – đều là sangha, hội đoàn tế bào tự chuyên biệt hóa (differentiation) thành từng ngành: thần kinh trung ương – ngoại biên lo truyền tin, tim, gan, thận… Màng tế bào mỏng 7 nanomet chứa lipid và protein làm “membrain” tiếp nhận và xử lý tín hiệu nội – ngoại bào, thể hiện trí thông minh vi tế. Nhờ đó, tế bào biết mở – đóng cửa để dưỡng khí, dinh dưỡng vào, độc tố ra, như reflex trong hệ thần kinh ngoại biên.

Tăng thân cũng là một cơ thể sinh vật học: mỗi thành viên như tế bào cần

  1. Thân hòa đồng trú (sống chung 24 giờ)
  2. Giới hòa đồng tu (chánh niệm–im lặng–tuân giới)
  3. Kiến hòa đồng giải (kết hợp mọi thông tin nội – ngoại thân)
  4. Lợi hòa đồng quân
  5. Ý hòa đồng duyệt
  6. Giới hòa đồng tu

Khi truyền thông tốt – từ pháp đàm, chánh niệm, họp chuyên ngành (âm thanh, nấu ăn, thiếu nhi…) đến thân hành thiền hành – tăng thân hoạt động như một dòng sông chung: chuyên môn hóa, phối hợp, sẻ chia thông tin để ra quyết định kịp thời, tránh trục trặc và tạo sức mạnh, hạnh phúc, duy trì sự trường tồn giống như một cơ thể khỏe mạnh.

Thich Nhat Hanh Tháng 10 3, 2005 Tiếng việt

Tiếng Chuông Truyền Thống

Chuông Đại Hồng buổi sáng và buổi chiều là truyền thống thiền viện đã có hàng ngàn năm. Người tri chung trước khi thỉnh chuông phải xá chuông, thực tập hơi thở theo bài kệ

  • Ba nghiệp lắng thanh tịnh, gửi lòng theo tiếng chuông
  • Nguyện người nghe tỉnh thức, vượt thoát nẻo đau buồn
    mỗi tiếng chuông đưa niệm về giây phút hiện tại, nâng hơi thở, tạo sự im lặng hùng tráng và lòng an vui. Chuông sáng với khoảng cách âm thanh ngắn thúc đẩy năng lượng tỏa sáng, chuông chiều với âm vang thưa tạo không gian tĩnh lặng sâu lắng.

Tiếng chuông không chỉ phục vụ tăng chúng từ sư trưởng đến sư em mà còn đánh thức lương tri của bà con bên ngoài, có thể khiến kẻ trộm buông dao, kẻ sát nhân giật mình buông vũ khí. Chuông là bạn đường, lời nhắc nhở sống tỉnh thức, gieo trồng hạt giống thiện lành, góp phần bảo vệ hồn thiêng sông núi, văn hóa tâm linh qua từng hơi thở chánh niệm.

Lịch sinh hoạt trong khóa tu

  1. Thức dậy 5 giờ, thiền hành lên xuống thiền đường, ngồi thiền 45 phút, sám pháp địa xúc
  2. 7h30 đi thiền hành chung, 8h30 ăn sáng im lặng
  3. 10 giờ nghe pháp thoại, 12h30 ăn trưa chánh niệm
  4. 16 giờ pháp đàm, sau đó chấp tác chung hoặc thể thao
  5. 18h30 ăn tối, 20 giờ ngồi thiền 45 phút và tụng kinh (nếu có)
  6. 21h30 tắt đèn im lặng hùng tráng đến 6 giờ sáng
Thich Nhat Hanh Tháng 11 30, 2004 Tiếng việt

Thiết Lập Đường Dây Từ Bi

Ngày thứ 71 của khóa tu tại Xóm Thượng, chùa Pháp Vân, còn 19 ngày nữa kết thúc. Danh từ monastics được dịch là người xuất gia, là giới xuất gia. Lễ tự tứ sẽ làm vào ngày 15 Tây để sư thúc và các thầy Từ Hiếu tham dự. Trong danh sách giáo thọ tập sự thiếu ba tên đã công cử bổ sung:

  1. thầy Pháp Nhuận
  2. thầy Pháp Tư
  3. sư cô Hạnh Liên

Vấn đề đường dây điện thoại được nêu cấp bách: bánh xe xe đạp bị xẹp khiến thầy không kịp hướng dẫn thiền, không có đường dây từ bi để cầu cứu. Thầy nhắc thực tập Linh Chú thứ nhất Darling, I’m here for you bằng cách có mặt 24 giờ cho người gọi, kể cả khi nấu ăn, làm vườn, thay phiên tại mỗi xóm, sử dụng điện thoại như biểu tượng của lòng thương và sẵn sàng chia sẻ với nhau kế hoạch phục vụ

Chăm sóc thiền sinh và tiện nghi tăng thân còn nhiều thiếu sót: thiếu phòng restroom tại Xóm Hạ và Xóm Mới, thiếu common room cho thăm hỏi, trà bánh; phòng học và phòng ngồi thiền thường xuyên ồn ào. Thầy kêu gọi mỗi xóm:

  • tự đặt ra quy luật cư xá, ban giám viện chịu trách nhiệm duy trì thanh tịnh
  • thành lập ban “chăm sóc thiền sinh” để bù đắp thiếu tiện nghi bằng lòng ưu ái và sự ân cần
  • cải thiện hệ thống tổng đài nội bộ, chuyển máy ngoài giờ văn phòng cho đội “Activity Bell” chịu trực điện thoại
Thich Nhat Hanh Tháng 11 23, 2004 Tiếng việt

Anh Em Nhà Họ Điển

Anh em họ Điền sống với nhau rất hòa thuận cho đến khi người em thứ ba sinh lòng sợ bị thiệt thòi, lập tức xin chia của chung rồi đòi ở riêng. Ba anh em định chặt cây cổ thụ làm ba phần, nhưng đêm sau cây đã chết khô. Cây ngừng sống vì “đau trong tâm” trước ý định phân ly, tương tự nỗi đau của tình huynh đệ bị chia rẽ. Nhận ra điều đó, người em thứ ba cảm động, xin ở chung như cũ và từ đó ba anh em sống hòa thuận suốt đời.

Tiếng chuông báo cho lớp học bài học tình huynh đệ trong tăng thân: sự sợ hãi, ganh tị, tư tưởng “muốn là số một” là giống người vợ thứ ba, phá hoại tình đoàn kết. Để xây dựng tăng thân hùng mạnh, cần

  • phát hiện và tháo gỡ “kẻ thù trong lòng” (sợ hãi, ganh tị)
  • khuyến khích nhiều “hạt nhân” (nhóm nhỏ) hoạt động tự nhiên trên cơ sở tình huynh đệ
  • liên tục học hỏi, sáng tạo, thích ứng với hoàn cảnh mới mà không chấp thủ hình thức cũ

Việc đào tạo, xuất gia cũng phải vận dụng nguyên tắc này: người lớn (sư anh, sư chị, thầy…) đặt tình huynh đệ và trách nhiệm hướng dẫn lên trên quyền hành, chăm sóc, trao đổi thường xuyên với các em tập sự để các em tiến bộ từng ngày. Khi tình huynh đệ vững, tăng thân sẽ có niềm tin, hạnh phúc, sức sống bền lâu.

Thich Nhat Hanh Tháng 3 24, 2004 Tiếng việt

Ta Đi Về Đâu Khi Bỏ Thân Này – Ý Chúng, Ý Thầy

Trong mỗi giây phút hiện tại, đời sống của ta vừa có đầu vào (input) vừa có đầu ra (output).Output hiện thân qua tam nghiệp:

  • tư duy (ý nghiệp) phát xuất từ chánh kiến hay tà tư duy,
  • ngôn ngữ (khẩu nghiệp) – chánh ngữ hay lời tổn hại,
  • hành động (thân nghiệp).
    Khi phát khởi một tư tưởng hay ngôn ngữ căn cứ trên chánh kiến, chánh tư duy, ta gây hạnh phúc nội ngoại; ngược lại phát khởi từ tà kiến, tà tư duy, ta gieo khổ đau. Đầu vào gồm không khí, thức ăn, tin tức, âm thanh… chất liệu đầu vào quyết định phần lớn phẩm chất đầu ra; vì thế thực tập hộ trì sáu căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) với người lính gác – tức chánh niệm – để trung hòa mọi độc tố, biến rác thành hoa.

Để nhận thức tính vô ngã và sự tiếp nối không ngừng, ba hình ảnh cần sử dụng:

  1. Ấm trà chỉ cho output: khi rót nước sôi lần lượt, tinh hoa trà tràn khắp bình, chén, thơ, tác phẩm;
  2. Dòng sinh mạng của con người: mọi tư duy, ngôn ngữ, hành động đều phát tán vào tương lai, vượt ra ngoài ranh giới ngũ uẩn;
  3. Cây đa và bụi tre: rễ thòng từ mỗi cành xuống đất tạo thân cây mới, tựa “thân ngoại hữu thân” – không phải một mà cũng không phải nhiều, không hẳn sinh-diệt, không-hẵn-không. Vì thế mọi uẩn không sở hữu ngã, chỉ là mạng lưới tiếp nối liên tục.

Nguyên tắc quyết định trong tăng thân: khi họp để đi đến quyết định, có năm trường hợp chính cho mối quan hệ giữa “thầy muốn” và “chúng muốn”:

  1. thầy muốn – chúng quyết;
  2. chúng quyết – thầy bổ túc;
  3. thầy muốn – chúng ngược lại – thầy xét lại;
  4. chúng muốn – thầy ngược lại – thầy xét lại;
  5. chúng muốn – đưa thầy phúc quyết (ít xảy ra).
    Hai trường hợp ngược lại (thầy muốn bắt buộc, hoặc thầy không muốn nhưng chúng vẫn làm) đều không được phép; tinh thần là y pháp bất y nhân, tuệ giác chung của tăng thân quan trọng hơn ý riêng của cá nhân.
Thich Nhat Hanh Tháng 3 18, 2004 Tiếng việt

Chuyển Hóa Năng Lượng Tính Dục

Nguyên nhân tan nát gia đình và nhiều tai nạn trong tăng thân không hẳn do xuất gia mà là do thiếu phương pháp quản lý năng lượng tình dục, vì đây là một thiên chức tự nhiên nằm trong cả nhân tánh và thú tánh. Trong 2600 năm truyền thống, tăng thân đã phát triển tuệ giác để quản lý năng lượng này, từ việc ăn uống tiết độ, bảo tồn tinh khí đến thực tập thiền hành, thiền tọa và đối thoại cởi mở. Làng Mai đã ghi nhận trong 22 năm có 3 sư chú và 2 sư cô phải “về nhà” vì không dốc lòng thực tập, và luôn tổ chức thiền trà tiễn đưa với tinh thần bảo hộ chứ không trừng phạt.

So sánh với ba dòng tu Công giáo, mỗi giới bản đều đề cập chastity (phàm hạnh) và các khái niệm như exclusive relationship hay inclusive love, cho thấy Phật giáo nổi bật ở bốn yếu tố của tình thương:
1 từ
2 bi
3 hỷ
4 xả

Thực hành hằng ngày và biện pháp bảo hộ tăng thân bao gồm:

  • tuân giữ giới thú dâm, phát lộ khi cần với tăng thân để được giải cứu
  • tổ chức thiền trà, lễ mùng 1 Tết với Bát Kính Pháp và cam kết bảo hộ lẫn nhau
  • nghiên cứu y học, tâm lý học để hiểu hậu quả di tinh, bảo tồn tinh khí và chuyển hoá năng lượng tình dục (sublimation)
  • thành lập ủy ban nội bộ kết hợp chuyên gia bên ngoài để xây dựng chương trình đào tạo và pháp đàm về năng lượng tình dục
Thich Nhat Hanh Tháng 12 18, 2007 Tiếng việt

Giao Thọ Chia Sẻ

Buổi chia sẻ tập trung vào hệ thống thực tập y chỉ sư, y chỉ đệy chỉ muội trong tăng thân, với mục đích xây dựng tình huynh đệ, trao truyền thực tập và nâng đỡ lẫn nhau. Mỗi giáo thọ mô tả cách tổ chức riêng, thời gian gặp gỡ trong tuần, hình thức sinh hoạt (pha trà, ăn bánh, viết bài chia sẻ, hỏi đáp), đề tài quán niệm và thiền hành, cũng như cách quan sát, lắng nghe từng cá nhân để hỗ trợ sự chuyển hóa của người xuất gia. Đại chúng được khuyến khích học hỏi lẫn nhau và thừa hưởng tinh thần “người lớn dẫn dắt người nhỏ” như truyền thống giáo đoàn nguyên thủy.

Danh sách số lượng y chỉ muội/y chỉ đệ và một vài nét chính về sinh hoạt của các giáo thọ:

  1. Sư cô Lĩnh Nghiêm: 7 y chỉ muội, thường hỏi nhu cầu thực tập của các em, pha trà Thái và khuyến khích chia sẻ khó khăn, kinh nghiệm hàng tuần
  2. Sư chị Chân Đức: 7 y chỉ muội, đa số người Tây phương, chủ yếu lấy bài tập từ khóa an cư Lộc Uyển, gặp riêng khi cần và điều chỉnh phương tiện thiện xảo (skillful means)
  3. Sư cô Định Nghiêm: 6 y chỉ muội, để nhóm tự quyết chương trình, thường ngồi chơi, đọc và viết bài cho nhau, xây dựng tình huynh đệ qua trao đổi văn bản
  4. Sư cô Kính Nghiêm: 3 y chỉ muội (độ tuổi 20–50), gặp không theo thời khóa cố định mà vào chiều rảnh, ngồi chơi uống trà, tạo không khí chị em trong gia đình
  5. Sư cô Diệu Nghiêm: 8 (sau bớt còn 7) y chỉ muội, giao tiếp chủ yếu tiếng Anh, tương tác 7 ngày/tuần, hỏi đầu mùa về mục tiêu thực tập, thay đổi mentee để các em được tiếp xúc đa dạng
  6. Sư cô Đoan Nghiêm: 7 y chỉ muội, từ chối 1 vị, nhấn mạnh tính cách chân thật, tránh hình thức, cùng chia sẻ đề tài quán niệm, đặt bánh trà và giữ giờ nghiêm túc
  7. Thầy Pháp Đăng (Pháp Vân): mỗi y chỉ sư tối đa 6 vị (4 y chỉ đệ, 1 y chỉ sư, 1 phụ tá), gặp tối thứ tư, tuần tự quán chiếu đời sống xuất gia, thiền tọa, thiền hành, cách tiếp xúc với sư cô
  8. Sư chị (Campuchia): 2 nhóm, 5 tập sự xuất gia gặp thứ sáu và trưa thứ hai, 5 người xuất gia sinh hoạt cùng thầy Pháp Đôn, đưa đề tài tuần, chỉ dẫn uy nghi, bồ đoàn, thiền chỉ/quán
  9. Toàn thể: mọi thiền sinh đều được khuyến khích làm y chỉ cho người nhỏ hơn, nương tựa lẫn nhau như đàn trâu qua sông, ghi nhận sức mạnh phát triển từ cộng đồng tăng thân xuyên suốt khóa tu.
Thich Nhat Hanh Tháng 3 17, 2004 Tiếng việt

Mục Đích Của Buổi Họp Hạnh Phúc

Buổi họp hạnh phúc là buổi họp căn bản quyết định vận mạng và hạnh phúc của tăng đoàn, với mục đích tìm ra những điều có thể làm cho tăng đoàn hạnh phúc và chuyển hóa khổ đau. Buổi họp này không chỉ mang tính vui trong giờ họp mà còn giúp giải quyết thực sự những khó khăn của đại chúng, thông qua tu tập chánh niệm chứ không phải ca hát hay giải trí. Số giờ và số buổi họp được quy định theo nhu cầu, có thể họp nhiều giờ hoặc nhiều buổi nếu cần, nhưng luôn chú ý tiết kiệm thời gian, tránh kéo dài gây mỏi mệt.

Một trong những kỹ thuật then chốt để nâng cao hiệu quả buổi họp:

  1. Thành lập ủy ban chuyên môn (5–10 người) nghiên cứu trước những vấn đề cần giải quyết, rồi đưa dự án khảo sát, đề nghị lên đại chúng trong buổi họp để thảo luận, tu chính và quyết định nhanh chóng.
  2. Tác bạch (proposal): trình bày dự án rõ ràng, hỏi đại chúng “Dự án này đã rõ ràng và đầy đủ để chấp nhận hay bác bỏ chưa?”, rồi mời người tu chính cùng ủy ban hoàn thiện trước khi biểu quyết.
  3. Kỹ năng điều khiển họp của chủ tọa, thư ký, rapporteur: thỉnh chuông đúng giờ, cắt lời khi cần, khuyến khích người có ý hay nói đúng trọng tâm, hạn chế phát biểu vô nội dung quá 3 phút.

Việc phát biểu thẳng thắn trong buổi họp được khuyến khích vì đây là không gian và thời điểm để mỗi thành phần tăng thân đóng góp tuệ giác của mình. Người tham dự phải nói bằng ái ngữkhiêm cung, đồng thời lắng nghe tích cực. Nếu một đề xuất đã được ủy quyền cho người khác thực hiện mà bị ai đó “vượt quyền” làm trước, người bị ảnh hưởng có thể đến trao đổi trực tiếp; nếu không giải quyết, có thể đưa lên đại chúng để điều chỉnh, nhằm ngăn ngừa tái diễn và duy trì tình huống họp hạnh phúc, hiệu quả.

Thich Nhat Hanh Tháng 11 13, 2007 Tiếng việt

Đưa Con Khờ Dại

Hạt giống của đứa con hoang – nỗi buồn (sadness) và nỗi tủi (self-pity) – có sẵn trong mỗi người, thường được trao truyền qua nhiều thế hệ. Khi hạt giống đó trỗi dậy, tư tưởng muốn bỏ nhà, bỏ nước, bỏ giáo hội hay bỏ tăng thân là rất thường tình và không nên trách móc. Thầy đã trải qua giai đoạn ấy nhiều lần, trong đó có lúc muốn bỏ nước ra đi vĩnh viễn vì bị ganh tị và chống đối, nhưng nhờ vị bổn sư thương yêu và sự tu tập mà hạt giống tủi hờn dần được chuyển hóa.

  • Câu chuyện ngắn của thiếu nữ mù và chàng thư sinh dựa trên hình ảnh
    • mở sách tới trang 12
    • hít thở ba hơi (vào – ra – vào – ra – vào – ra)
    • hai viên ngọc hiện ra dưới gối
    • xoa hai viên ngọc vào mắt để sáng lại
    • phép lạ chỉ xảy ra khi thiếu nữ không nhìn thấy chàng thư sinh
    • mỗi lần gặp chàng là lại mất hai viên ngọc
    • chàng thư sinh phải đi biệt xứ để bảo toàn mắt cho thiếu nữ

Bài thơ năm 1964 mang tựa Xin cúi đầu đưa về khắc họa trọn vẹn tâm trạng người trai khờ dại:

  • hai bàn tay tượng trưng cho tình yêu, trái tim, khối óc và cuộc đời
  • đã nhiều lần nhỏ máu trên cung bậc thương yêu
  • xin trả lại và nguyện cầu đừng bị nghiến nát
  • tình yêu không tính toán, rơi trên cỏ mộ hoang cũng như hoa hồng đương lửa
  • vết thương xưa chưa lành nhưng vẫn trở về như kẻ đầu hàng ngoan ngoãn

Thầy nhấn mạnh rằng sự tu tập và chăm sóc những hạt giống cùng tử trong mỗi người mới là chìa khóa giữ gìn hạnh phúc và tình huynh đệ, bất chấp mọi khó khăn, ganh tị hay chống đối chung quanh.

Thich Nhat Hanh Tháng 3 16, 2004 Tiếng việt

Thiết Lập Ba Con Đường Truyền Thông

Ngồi thiền nuôi dưỡng và trị liệu ngay trong từng hơi thở, từng giây phút có mặt ở đây và giờ này, không phải chờ đợi nhiều năm sau. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân khi đi thiền đều đem lại niềm vui gọi là thiền duyệt hay joy of meditation, và sai lầm nếu nghĩ rằng phải chịu cực khổ bây giờ mới mua được hạnh phúc ngày mai. Thiền tọa động có bốn chữ Chỉ Quán Đả Tọa: chỉ cần ngồi xuống, không tranh đấu, không tìm kiếm, bừng dậy chánh niệm, chánh định, tuệ – ý thức mình đang sống và đang có mặt – hạnh phúc kéo dài như câu que la joie demeure.

Sangha gặp gỡ để giữ gìn mạng mạch Pháp – lấy cảm hứng từ dân Va-ri đi họp thường xuyên, đoàn kết, hạnh phúc, nghiêm trì luật pháp, tôn ti trật tự. Để buổi họp luôn hạnh phúc, tình huynh đệ, sự truyền thông, cần

  • giữ thời gian ngắn gọn, kết thúc đúng giờ
  • chọn chủ tọa có năng khiếu điều hành buổi họp và vị phụ tá với chuông báo
  • giới hạn phát biểu tối đa 3 phút, đến phút thứ ba thỉnh chuông
  • sử dụng ái ngữ, khiêm cung, thẳng thắn nói ngay điều cần nói trong buổi họp

Ba con đường truyền thông giữa tăng thân lớn – sa di, sa di ni và tỳ kheo, tỳ kheo ni:

  1. Họp hạnh phúc của sa di, sa di ni để mọi người đều phát biểu ngắn gọn, gửi lên hội đồng người thọ giới lớn
  2. Deep listening – mỗi tháng các sư anh, sư chị ngồi lắng nghe tâm tư sa di, sa di ni
  3. Y chỉ sư – mỗi em sa di, sa di ni có y chỉ sư chọn theo affinity, tâm tình và hướng dẫn tu tập cá nhân
Thich Nhat Hanh Tháng 3 15, 2004 Tiếng việt

Đóng Góp Đề Tài Cho Khóa Tu

Trong ba tháng an cư tại Lộc Uyển, đại chúng đã thực tập nhiều pháp môn như tụng Kính Lạy Đức Như Lai, thiền hành, làm mới và thọ trì giới luật, đồng thời cùng nhau bàn về nhu cầu cấp thiết của tăng thân: từ xây dựng tình huynh đệ, năng lượng tu tập chung đến việc củng cố nội lực của mỗi cá nhân qua hải đảo tự thân và tâm Bồ đề. Khi tăng chúng đông lên, cần cân bằng giữa tính giản dị trong sinh hoạt với mức độ tổ chức đủ rõ ràng để duy trì giới luật, truyền thông và triển khai quyết định chung một cách hiệu quả.

Những đề tài học hỏi và thực tập được đại chúng nhấn mạnh nhất bao gồm:

  1. Phát triển năng lực tổ chức sinh hoạt tập thể để giữ vững niềm tin và năng lượng chung (họp chuyên đề, giám niệm, lưu trữ và theo dõi quyết định)
  2. Nuôi dưỡng tình thân qua đời sống hàng ngày: gặp gỡ, chia sẻ, chơi đùa, hỗ trợ nhau, bảo dưỡng tinh thần dễ thương và lòng cởi mở
  3. Bố trí lớp giáo lý, luật học và pháp hành phù hợp với trình độ sa di – tỳ kheo, giúp từng thành phần thanh niên Tây phương và Việt Nam cắm rễ sâu hơn vào đạo môn
  4. Giữ gìn gốc rễ truyền thống (giới luật, đời sống giản dị) đồng thời vận dụng tính tiến bộ để phù hợp bối cảnh Tây phương mà không mất bản sắc
  5. Hỗ trợ những thành viên gặp khổ đau, lơi giải hay thiếu vững trong tu học bằng cách khuyến khích đối thoại, chăm sóc hải đảo tự thân và định hướng rõ ràng qua y chỉ sư.
Thich Nhat Hanh Tháng 3 12, 2004 Tiếng việt

Sự Tương Quan Luật Tạng Giữa Đồng Diệp Bộ Và Pháp Tạng Bộ

Pháp Tạng Bộ Dharmaguptaka và Đồng Diệp Bộ Tamraṣāṭīya (Theravāda/Sthavira) là hai phái anh em của Phân biệt thuyết bộ Vibhajyavāda, sinh ra khoảng 140 năm sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt. Pháp Tạng Bộ truyền vào Trung Quốc rồi Việt Nam, mang theo luật Tứ Phần mà hầu hết tăng nhân Việt Nam học và hành trì. Đồng Diệp Bộ truyền xuống Nam, Tamraṣāṭīya nghĩa là đồng (copper) + diệp (lá), vì y vàng đỏ tựa màu đồng, sau đổi danh là Thượng Tọa Bộ Theravāda. So sánh hai bộ luật cho thấy 20 kiền độ gần như identical:

  • 1 Thọ giới kiền độ – Đại kiền độ (Mahākhandhaka)
  • 2 Thuyết giới kiền độ – Bố tát kiền độ
  • 3 An cư kiền độ – Nhập vũ an cư (vassa)
  • 4 Tự tứ kiền độ
  • 5 Bị cách kiền độ
  • 6 Y kiền độ – Dược kiền độ
  • 7 Dược kiền độ – Kaṭhina Y kiền độ
  • 8 Kaṭhina kiền độ
  • 9 Câu-đàm-di kiền độ
  • 10 Campa kiền độ
  • 11 Kha-trách kiền độ – Yết-ma kiền độ
  • 12 Nhân kiền độ – Biệt-trú kiền độ
  • 13 Phú-tàng kiền độ – Tạp kiền độ
  • 14 Giá kiền độ – Giá thuyết giới kiền độ
  • 15 Phá-Tăng kiền độ
  • 16 Diệt-tránh kiền độ
  • 17 Tì-khưu-ni kiền độ
  • 18 Pháp kiền độ – Nghi pháp kiền độ
  • 19 Phòng-xá kiền độ – Ngọa-bọạ-cụ kiền độ
  • 20 Tạp kiền độ – Tạp sự kiền độ

Về nhận thức (pramāṇa), có bốn loại chính:
1 Hiện lượng (trực giác đúng là chân hiện lượng, sai là tợ hiện lượng)
2 Tỷ lượng (suy luận quy nạp/diễn dịch, đúng–sai)
3 Thánh giáo lượng (mặc khải của bậc thánh)
4 Phi lượng (tợ hiện/tỷ lượng sai lầm)

cùng hành lượng tức sự thực tập. Tăng thân lượng tổng hợp hiền lượng, tỷ lượng, thánh giáo lượng và hành lượng của cộng đồng tu học, là “ngọn đèn” duy nhất để nương tựa. Quy y tăng nghĩa là quy y tuệ giác chung không đối nghịch tuệ giác cá nhân, vì tuệ giác của mỗi hành giả là thành phần cấu thành tuệ giác tập thể của tăng thân.

Thich Nhat Hanh Tháng 3 2, 2004 Tiếng việt

Luật Tạng Xích Đồng Diệp Bộ

Tạng luật Pali của Đồng Diệp Bộ gồm năm phần gọi là five books, trong đó hai phần đầu bàn về giới luật và chi tiết nghĩa các giới, phần năm là tóm tắt thực dụng. Phần ba gọi là Đại phẩm (Mahāvagga) gồm 10 kiền độ (Skandhaka, tiếng Pali: Khandhaka) và phần bốn là Tiểu phẩm (Cullavagga) gồm 12 kiền độ. Thuật ngữ Matrika (Ma-đắc-lặc-già) nghĩa là mẹ, gọi chung cho toàn bộ luật tạng như Vinaya Matrika, từ đó sinh ra các chương con là các kiền độ.

Đại phẩm Mahāvagga có 10 kiền độ:

  1. Mahākhandhaka (Đại kiền độ): 10 bài tụng kể Phật truyện, liên hệ thầy trò, truyền thọ giới lớn
  2. Uposatha Khandhaka (Bố-tát kiền độ): chuẩn bị tụng giới mỗi nửa tháng, duy trì thanh tịnh hòa hợp
  3. Vassapāṇāyaka Khandhaka (Nhập vũ an cư kiền độ): tổ chức an cư kết hạ mùa mưa
  4. Pavarana Khandhaka (Tự tứ kiền độ): nghi thức sám hối, cầu soi sáng sau an cư
  5. Bihāra-Thammā Khandhaka (Bì cách kiền độ): nguyên tắc sử dụng giày dép, vật dụng bảo hộ
  6. Bhesajja Khandhaka (Dược kiền độ): hướng dẫn dùng thuốc men, quy chế ẩm thực theo cuộc du hành Phật
  7. Kathina Khandhaka (Y Kathina kiền độ): thể thức nhận y mới sau mùa an cư
  8. Civara Khandhaka (Y kiền độ): quy định cúng dường, loại y, màu sắc, phân phối y
  9. Campeyya Khandhaka (Chiêm Bà kiền độ): chỉnh lý Yết-ma tại làng Champa, phương pháp tác pháp Yết-ma hợp pháp
  10. Kosambi Khandhaka (Câu-đàm-di kiền độ): ghi lại vụ chia rẽ Tăng đoàn Kosambi, khuyên hòa giải

Tiểu phẩm Cullavagga có 12 kiền độ:

  1. Kamma Khandhaka (Yết-ma kiền độ): các loại Yết-ma, xử tội tăng tàn, bất sám, bất xả ác kiến
  2. Parivāsa Khandhaka (Biệt trú kiền độ): biệt trú, Manatta, Marāja và phục hồi (rehabilitation)
  3. Samuccaya Khandhaka (Tập kiền độ): phương pháp xử lý tội phức tạp, che giấu tái phạm
  4. Samatha Khandhaka (Diệt tránh kiền độ): diệt trừ tranh chấp, cãi vã trong Tăng đoàn
  5. Kuddhaka-vatthu Khandhaka (Tạp sự kiền độ): 110 vụ phạm tội và giải quyết cụ thể
  6. Senāsana Khandhaka (Ngọa tọa cụ kiền độ): am thất, giường, gối, quản lý tài vật Tăng thân
  7. Saṅghabhedaka Khandhaka (Phá tăng kiền độ): chuyện Đề-bà-đạt-đa chia rẽ, mưu sát Phật ba lần
  8. Vatta Khandhaka (Nghi pháp kiền độ): 55 nghi thức sinh hoạt thường nhật như nhà ăn, khất thực, cầu tiêu
  9. Pātimokkha-ṭṭhapanā Khandhaka (Giá thuyết giới): tạm dừng tụng giới khi có người không thanh tịnh
  10. Bhikkhunī Khandhaka (Tỳ-kheo-ni kiền độ): thành lập Tăng-ni, Gotamī thỉnh xuất gia và Bát kỉnh pháp
  11. Pañcāsatikā Khandhaka (Ngũ Bách kiền độ): Kết tập lần thứ nhất (500 vị), đề xuất bớt giới
  12. Sattasatikā Khandhaka (Thất Bách kiền độ): Kết tập lần thứ hai (700 vị), nêu 10 việc phi pháp của miền Đông
Thich Nhat Hanh Tháng 3 2, 2004 Tiếng việt

Quay Về Quê Hương Đích Thực

Ý tưởng về tăng thân đa văn hóa được khởi đầu bằng hình ảnh vòng tròn tượng trưng cho cộng đồng gồm người gốc Á và Âu-Mỹ, cùng chung khát vọng sống hạnh phúc, an lạc, hòa bình. Mỗi thành viên, dù gốc rễ Do Thái, Việt, Âu hay Mỹ, đều “đang đi tìm quê hương đích thực” vượt lên trên những tiện nghi văn hóa (thức ăn, ngôn ngữ, phong tục). Quê hương ấy chính là chốn an trú sâu sắc, đưa tới quả vị thứ hai trong tứ quả – quả vị đã về, đã tới – tức an lạc ngay trong giây phút hiện tại.

Các pháp môn thực tập nhấn mạnh ba bước tiến dần:

  1. An trú (peaceful abiding): ngồi yên, không ý muốn bỏ chạy.
  2. Đã về và đã tới (true home): mỗi hơi thở, mỗi bước chân đều trở về cội nguồn.
  3. Truyền thông và liên hệ: ôm ấp, chấp nhận bản thân trước khi thiết lập kết nối chân thành với huynh đệ.

Khi cá nhân trong tăng thân đều “đã về, đã tới”, tăng thân trở thành pháp khí: đồng hành giữa các thành phần văn hóa, giúp mỗi người vừa chấp nhận cội nguồn, vừa có thể hóa độ thế gian – dù ở Á hay Âu, trong đạo Phật hay trong đời sống xã hội – bằng trí tuệ “hiện pháp lạc trú” hơn là mong cầu một thiên quốc ở tương lai.

Thich Nhat Hanh Tháng 2 27, 2004 Tiếng việt

Văn Học Luật Tạng Của 6 Bộ Phái

Sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt, 100 năm sau Phật giáo chia thành trên 20 bộ phái, mỗi bộ phái có quảng luật riêng làm nền tảng văn học luật tạng. Cho đến nay chỉ còn sáu kho tàng luật bằng Pāli, Hán, Phạn và Tây Tạng có thể nghiên cứu được, gọi chung là canonical Vinaya literature. Phần thứ hai là Pratimokṣa sūtra (giới kinh), văn bản thuyết-tụng gồm dẫn nhập, tác pháp yết ma, tụng giới, câu hỏi và khích lệ. Ở Làng Mai đã tân tu giới kinh của Pháp Tạng bộ (Tứ Phần luật) với 250 giới tỳ kheo và 348 giới tỳ kheo ni. Phần thứ ba là non-canonical Vinaya literature (luật luận), gồm các chú giải và bình phẩm như Samantapāsādikā, Tỳ-nại-đa giới nhân duyên kinh…

  1. Sáu quảng luật bộ phái còn nguyên vẹn

    • Đồng Diệp bộ (Tāmraśāṭīya/Theravāda) bằng Pāli
    • Thập Tụng bộ (Dharmaguptaka) – gồm Tứ Phần luật
    • Ma Ha Tăng Kỳ bộ (Mahāsāṃghika)
    • Ngũ Phần bộ (Mahīśāsaka)
    • Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda)
    • Đại chúng bộ (Mūlasarvāstivāda)
  2. Mười một tác phẩm luật luận chú giải và bình phẩm trên Hán tạng

    1. Samantapāsādikā (Buddhaghosa)
    2. Thiện kiến luật Tỳ-bà-sa (18 quyển)
    3. Tỳ-nại-đa giới nhân duyên kinh (10 quyển)
    4. Tác-bà-da Tỳ-ni Tỳ-bà-sa (9 quyển)
    5. Căn bản Tác-bà-đa-bộ Luật nhiếp (14 quyển)
    6. Ưu-ba-ly vấn Phật kinh
    7. Phật A-tì-đàm kinh (2 quyển)
    8. Tỳ-ni mẫu kinh (8 quyển)
    9. Luật nhị thập nhị minh liễu luận
    10. Xá-lợi-phất vấn kinh
    11. Phật thuyết Bỉ-sô ngũ pháp kinh
Thich Nhat Hanh Tháng 2 20, 2004 Tiếng việt

Quảng Luật Trong Truyền Thống

Vinaya literature, gọi là Luật tạng hay Vinaya Pitaka, bao gồm ba phần chính
1 Quảng luật (Broad Vinaya)—phần căn bản của Luật tạng, chia làm ba:

  • Kinh phân biệt (Sūtra Vibhanga) giải thích bản chất và nguồn gốc từng giới;
  • Kiền độ (Skandhaka) gồm 22 chương quy chế sinh hoạt tăng đoàn (an cư, y áo, thuốc men…);
  • Phụ lục (Parivāra) 19 chương bàn chi tiết lặt vặt.
    2 Giới kinh và Yết-ma (Prātimokṣa Sūtra & Karma Vacana)—văn bản tụng niệm para-canonical, gồm lời tựa, tác pháp yết-ma, câu hỏi, lời kết và trích dạy của đức Thế Tôn
    3 Luật luận (treatises & commentaries)—những bộ sách giải thích và đàm luận về giới, về luật, do học giả và chư tôn đệ tử soạn

Phần Quảng luật được truyền ghi trong các tông phái chính sau:

  • Theravāda (Thượng tọa bộ / Đồng Diệp đồng Diệp bộ) – bản Pāli, có phiên La Mã (Oldenberg), Thái, Miến;
  • Sarvāstivāda (Hữu bộ) – Thập tụng luật 61 quyển chữ Hán (dịch năm 404);
  • Dharmaguptaka (Pháp Tạng bộ) – Tứ phần luật 60 quyển chữ Hán (dịch 410–413), gồm sáu mục: luật Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, 20 kiền độ, Tạp Pháp Tỳ Ni, Điều Bộ, Tỳ Ni Tăng Nhất;
  • Mahāsaṅghika (Đại chúng bộ) – Quảng luật hai phần Tỳ Khưu-Tỳ Ni và Tỳ Khưu Ni-Tỳ Ni (dịch 416–418);
  • Mahīśāsaka (Hóa Địa bộ) – Ngũ phần luật 30 quyển (dịch 423), chia năm: luật Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, chín phép thọ giới, bảy phép diệt tranh chấp & Yết-ma, tám pháp giải quyết phá hoại và các hội nghị giới luật.
Thich Nhat Hanh Tháng 2 6, 2004 Tiếng việt

Luật Tạng Và Quy Luật Các Giáo Phái Khác

Mùng 6 tháng 2 năm 2004 tại thiền đường Thái Bình Dương, tu viện Lộc Uyển, Hội họp miền Bắc California diễn ra trong ba bốn ngày mỗi năm với sự tham dự của sáu thầy sáu sư cô Việt Nam từ Lộc Uyển và rừng Phong. Phần lớn người tham dự là những vị tu 30–40 năm sống một mình, không có tăng thân nhưng vẫn không rớt, tạo niềm tin rằng đời sống xuất gia có thể vững bền dù phải đi làm và tự mình chiến đấu với khó khăn của thân và tâm. Sư cô Châu Nghiêm mong các hành giả Mai Thôn, Lộc Uyển được gặp gỡ những vị này để củng cố đức tin.

Trong Giới bổn của dòng Benedict có bốn loại xuất gia:

  1. Cenobite (viện sĩ): sống trong đan viện, tu học theo một quy luật và dưới quyền một đan phụ
  2. Anchorite hay hermit (biệt sĩ, ẩn sĩ): đã thử luyện lâu ngày trong đan viện, nay sống một mình và tự chiến đấu với tính hư của xác thịt, tư tưởng phóng túng nhờ ơn Chúa
  3. Sarabaite (đan sĩ tự tu): không có quy luật, tính nết mềm như chì, thỏa dục vọng, gọi điều mình thích là thánh, điều mình không ưa là bất chính
  4. Gyrovague (du tu): lang thang tỉnh nọ trấn kia, trú ba bốn ngày mỗi nơi, nô lệ cho ý riêng và dục vọng, xấu hơn Sarabaite

Kinh nghiệm Cơ Đốc và Phật giáo đồng nhất quan trọng của tăng thân: sự nâng đỡ, soi sáng và niềm hỷ lạc lớn từ việc tham dự vào sự nghiệp Bát Nhã của Đức Thế Tôn. Các thầy thượng tọa, ni sư Việt Nam tu lâu năm qua sống chung với Làng Mai là chỗ dựa quý giá cho tăng thân Tây phương, nhất là những người trẻ còn băn khoăn về khả năng đứng vững suốt đời xuất gia. Việc chia sẻ kinh nghiệm, pháp đàm và bài học Giới bổn Benedict giúp mọi người nhận ra vị trí mình trong tăng thân và tìm thấy niềm tin – sức mạnh để không rời bỏ con đường chánh pháp.

Thich Nhat Hanh Tháng 1 30, 2004 Tiếng việt

Tam Tụ Tịnh Giới

Chỉ là dừng lại, refrain, don’t do it; khi chỉ thì là trì – giữ gìn cho nguyên vẹn (trì bát, trì giới); nếu không chỉ mà tác – làm – thì sẽ phạm giới, làm cho hư nát. Đối với những điều không nên làm, ta tuân theo “chỉ trì, tác phạm”: không giết, không trộm, không tà dâm… thì chỉ (ngưng) sẽ trì được giới; làm (tác) là phạm. Ngược lại, với những việc phải làm, “chỉ phạm, tác trì”: ví dụ tụng giới, đi an cư, cứu giúp người bị nạn… nếu chỉ (ngưng) thì phạm, phải tác mới trì được giới.

Pháp tu giới mở rộng thành ba chùm gọi là Tam Tụ Tịnh Giới:
1 Nhiếp Luật Nghi giới – don’t do (chư ác mạc tác) và giữ luật nghi, uy nghi
2 Nhiếp Thiện Pháp giới – làm những điều lành (kusala), can thiệp khi thấy khổ đau
3 Nhiêu Ích Hữu Tình giới – đại bi, vươn tay xa cứu độ và giảm khổ mọi loài

Bộ giới truyền thống của các tỳ kheo là 250 (Pháp Tạng bộ), tỳ kheo ni 348, Theravāda (Xích Đồng Diệp) 227; con số tăng dần khi cộng đồng nhận thấy tệ đoan mới cần thiết để bảo hộ tăng đoàn. Đức Thế Tôn luôn linh động, tu chỉnh giới luật theo hoàn cảnh – ví dụ cho phép mang thức ăn khô khi phải vượt sa mạc, cho phép nấu khi đói khát, dùng tịnh nhân giữ hiện kim.

Một sa di ghi nhận… cảm giác cô đơn, mong được là chính mình trong dòng mạch tu tập. Bạn ấy chia sẻ chỉ học Pháp để hiểu rõ hơn, không phải vì “bị ép,” và nỗ lực tự tin phát triển tài năng riêng.

Thich Nhat Hanh Tháng 1 16, 2004 Tiếng việt

Giữ Giới Là Thực Tập Chánh Niệm

Chuông thỉnh giờ ngồi thiền buổi sáng vang hồi chuông lớn nửa giờ trước giờ thiền chính thức, đánh dấu con đường lên thiền đường trở thành thiền đường và hoàn toàn cấm ô tô, kể cả xe golf, đi vào trong thời gian từ 2:15 đến 2:30 sáng và chiều, tổng cộng gần 5 giờ car-free mỗi ngày. Các ban chăm sóc và giáo thọ có trách vụ chặn đường, đặt Bồ tát trấn đường để thiền sinh khách cũng ý thức tuân thủ quy luật nhằm bảo vệ không gian thiền hành thanh tịnh và tăng thêm niềm vui cho cả tăng chúng lẫn thiền sinh khách.

Sinh hoạt trong tăng thân luôn đề cao tinh thần “một giọt nước trong dòng sông”: ngồi thiền, nghe pháp, ăn cơm, tụng kinh đều phải nhập vào đại chúng, không tách biệt. Tăng thân không phải một chùa Việt Nam bình thường mà là nơi gieo hạt giống chánh pháp vào văn minh Tây phương, cần biến đổi hình thức trang nghiêm, lễ nghi, cách tụng, ăn, đi đứng cho phù hợp căn cơ người Tây phương, nhằm đối thoại và xua tan những lớp “rác” của khổ đau, thất vọng, chán nản do văn hóa hiện đại tạo ra.

Một số nguyên tắc tu chỉnh giới luật để phục vụ hai mục đích bảo hộ tăng đoàn và đem lại thảnh thơi cho hành giả:
1 Giới phải là phương tiện chánh niệm, không thành giới cấm thủ kiến hay lễ nghi hình thức
2 Giới cần thích ứng với hoàn cảnh (từng bước biệt giải thoát, không cố định mọi nơi)
3 Giới chế ra để đối trị tệ đoan, có thể tu chỉnh, bổ sung hay bãi bỏ khi không còn phù hợp
4 Giới bản Tân tu gọi là Khắp chốn thảnh thơi (Prātimokṣa), nghĩa là từng bước, từng chỗ đều đưa đến tự do và an lạc

Thich Nhat Hanh Tháng 1 9, 2004 Tiếng việt

Thiết Lập Buổi Họp Hạnh Phúc

Hồi sáng thiền hành trên con đường thơm hương núi rừng giữa trăng và núi, chỉ cần hai chân, hai lá phổi và chánh niệm là có thể bước vào tịnh độ ngay trong giây phút hiện tại. Thiền và tịnh độ hòa làm một; không phải chờ tương lai mà thiền hành từng bước chính là đi trong tịnh độ hiện tiền. Bài hát Nương tựa A Di Đà với sáu chữ kèm dấu phết được dùng để đi thiền hành, nhịp ba bước thở – nói lên niềm vui và khả năng nuôi dưỡng hạnh phúc ngay nơi thân tâm.

  1. Nương tựa A 2. Di Đà phết 3. Nơi bản môn mầu nhiệm phết 4. Con dốc về, con dốc lòng quay về phết

Xây dựng tăng thân bắt đầu từ chính niềm vui và liên kết anh em trong buổi họp hạnh phúc mỗi tuần. Đây không phải họp giải quyết công việc mà là mốc để nuôi dưỡng tình huynh đệ, nâng cao phẩm chất hạnh phúc, tránh bẫy hình thức. Sa di, sa di ni, tỳ kheo, tỳ kheo ni và cư sĩ mỗi thành phần đều có quyền tổ chức và tham dự – kể cả ngày trưởng tịnh (Uposatha) để thanh tịnh giới thân, duy trì nề nếp sinh hoạt và bốn chúng vững mạnh. Đi nhóm năm người, bảy người, mười người trong tịnh độ không phải mơ tưởng mà là thực tại đang sống.

Thich Nhat Hanh Tháng 9 8, 2003 Tiếng việt

Thanh Lọc Thân Tâm

Hôm nay là ngày chót chuyến đi của tăng đoàn, tối sẽ có buổi thuyết giảng tại Denver rồi trở về nghỉ để sáng mai lên đường về Lộc Uyển, Rừng Phong hoặc Hoa Tịnh Độ. Trong chuyến đi này huynh đệ thắt chặt, nuôi dưỡng tình thương và học hỏi từ tích cực lẫn tiêu cực. Trọng tâm tu học cá nhân bao gồm

  • họp hàng tuần của tỳ kheo, tỳ kheo ni, sa di và sa di ni là mạng mạch sinh mạng tăng thân, hơn cả pháp thoại, pháp đàm, thiền hành;
  • phát hiện triệu chứng nhỏ trong tăng thân phải nói liền để điều chỉnh, không để thành vấn đề lớn;
  • giới “già” trên internet–email là preventive precept, luôn phải có người thứ hai bên cạnh và chỉ một địa chỉ email chung cho mỗi chùa.

Quy chế tài chính và sinh hoạt:

  1. Phật tử cư sĩ cúng dường bao nhiêu thì trao qua Tăng Phố Quỹ để mọi thành phần cùng thừa hưởng, không nhận riêng dù có cảm tình.
  2. Trong dịp trai tăng, đề nghị cư sĩ học cách cúng dường bình đẳng thay vì phân biệt thượng tọa, tỳ kheo, sa di.
  3. Vị trụ trì giữ vai trò “bàn tay của mẹ”, có quỹ đen để giúp sư em khó khăn; mọi tiền riêng (trợ cấp, bảo hiểm xã hội…) đều đưa vào quỹ chung, tăng thân bảo lãnh chăm sóc sức khỏe 100%.
  4. Tiêu thụ văn nghệ–sách–DVD phải qua kiểm duyệt ban giáo thọ, chỉ giữ lại tài liệu giáo dục, tuyệt đối tiêu hủy rác rến văn hóa (phim chưởng, nhạc vương vấn quá khứ) trong phạm vi tu viện.
  5. Việc học tập ưu tiên nội minh: đọc kinh, luận, sách của bổn sư–y chỉ sư trước; ngoại minh, sách đời chỉ giới thiệu mẫu để nghiên cứu, không đọc ồ ạt.
Thich Nhat Hanh Tháng 8 23, 2003 Tiếng việt

Đạo Bụt Đi Vào Xã Hội Tây Phương

Thầy rất vui được gặp lại nhiều khuôn mặt quen thuộc trong chuyến đi này bởi đó là cơ hội để sống chung, làm việc chung và xây dựng tình huynh đệ. Những chuyến đi không chỉ là phục vụ quần chúng mà còn nằm trong chương trình training để mỗi hành giả, kể cả chính thầy, có thêm kinh nghiệm và tuệ giác. Ở Tây phương, đa số xem Phật giáo là một thứ Protestant Buddhism, chỉ cần lay Dharma teachers và không cần monastics; các Zen centers như Rochester hay San Francisco cũng chỉ có priest (xuất thân cư sĩ) chứ không có tăng đoàn đúng nghĩa. Trong khi đó, tăng đoàn Làng Mai thực hành nguyên tắc không sở hữu, chia sẻ mọi tiện nghi vật chất và tuệ giác theo lục hòa, sống như một gia đình, một “spiritual communism” để bảo toàn tinh thần nguyên thủy của đạo Bụt.

Để Phật giáo cắm rễ vững chãi ở Tây phương cần một monastic community thực thụ. Thầy nhấn mạnh sứ mạng của tăng đoàn xuất gia—hai chúng xuất gia là căn bản của tứ chúng—là hoằng truyền tinh thần nguyên thủy, khác hẳn đường lối lay Buddhism của các giáo thọ như

  • Jack Kornfield
  • Joseph Goldstein
  • Thiền sư Suzuki
  • Thiền sư Mayumi
    Cũng như lay teachers tâm huyết từ các truyền thống Theravada, Zen, Tây Tạng, Cao Ly. Những người hộ đạo tiêu biểu hiểu và trân quý monastics gồm
  • Pritam Singh
  • Larry Ward
  • Jacques Lalo
  • Santum
    Để bảo đảm sự tiếp nối, sẽ thành lập một monastic trust chuyên nuôi dưỡng và giáo dục tăng ni, tài trợ bằng nguồn đóng góp của cư sĩ Việt và Tây phương. Đây chính là con đường để tăng đoàn Làng Mai tiếp nối truyền thống nguyên thủy, không chỉ là một phong trào nhất thời mà là một rễ bền vững của đạo Bụt ở phương Tây.
Thich Nhat Hanh Tháng 8 10, 2003 Tiếng việt

Xây Dựng Tăng Thân

La bàng không, xứ sở của giây phút hiện tại là một “quốc gia” bất khả xâm chiếm, chỉ mất đi khi ta không muốn ở đó và chỉ phục hồi khi ta đặt hết lòngnăng lượng vào. Khi ta rời bỏ giây phút hiện tại, dù là vài lần trong ngày hay suốt tháng năm, ta mất đi quyền công dân của xứ sở ấy, và rất hiếm có cơ hội tái lập trong kiếp này nếu ta không trân trọng.

Trong tăng thân tồn tại năng lượng tập thể có khả năng chữa lành những vết thương cá nhân và tập thể. Khóa tu – đặc biệt là khóa mùa đông ba tháng – phải được tổ chức với ưu tiên cao nhất là sống cùng nhau, để:

  • cho những vết thương có cơ hội lành,
  • củng cố tình huynh đệ trong cộng đồng,
  • tạo điều kiện trao truyền chỉ những gì đã được tinh luyện, tốt đẹp.

Những điểm chính được nhấn mạnh

  • chỉ truyền những gì đã đủ chín muồi, để tránh gieo rắc thêm đau khổ
  • sức mạnh của tăng thân được gia tăng khi công nghệ là công cụ, không phải người cai quản
  • kỷ niệm 25 năm Làng Mai với 2 500 cuốn sách Anh ngữ đã bán hết và đang tái bản kỳ 2
  • sức khỏe của Thầy được cải thiện sau điều trị MycostatinFlagyl cho nhiễm nấm và vi khuẩn
  • trong tinh thần mindfulness, hát tụng và thiền ca cũng góp phần nuôi dưỡng năng lượng chữa lành
Thich Nhat Hanh Tháng 12 6, 2005 Tiếng việt

Tăng Thân và Tia Laser

Mỗi khi nghe chuông hay ngồi thiền, thực tập gồm ba bước chính để mời tất cả tế bào trong cơ thể tham dự, không chỉ lỗ tai và ý thức:

  • nghe chuông như một hiệu lệnh khởi sinh *chánh niệm* xuyên suốt đến tế bào óc, tim, thận, da…  
  • cho *chánh định* lan toả như tia laser – tức các quang tử cùng lên pha (in phase) một *ba trường* chung, hành xử như một quang tử duy nhất  
  • từ trạng thái đồng nhất ấy phát sinh một *định lực* mạnh mẽ, có khả năng cắt đứt ràng buộc, đem lại hỷ lạc, tự do và vô ngã  

Khái niệm này được khoa học lượng tử và thần kinh học chứng minh qua hai ví dụ:

  1. laser vận hành nhờ stimulated emission of radiation – các photon bị kích thích phát xạ đồng pha tạo tia sáng mạnh mẽ  
  2. cấu thành *Bose-Einstein condensate* ở nhiệt độ 273,15°C dưới không độ khiến nguyên tử mất tính biệt lập, cư xử như một khối thống nhất  
  3. PET scan cho thấy hạnh phúc tăng cường hoạt động thùy trán trái, giận dữ kích hoạt thùy trán phải – nghĩa là chúng ta có thể chuyển hoá tâm sân thành tâm yêu thương  

Thực hành ngồi thiền, thiền hành hay ăn cơm đều có thể đạt đến mức đồng pha tế bào, mang lại an lạc và công năng trị liệu cho cơ thể, đồng thời chuyển hoá tập khí cá nhân thành năng lượng cộng đồng của tăng thân.

Thich Nhat Hanh Tháng 9 27, 2002 Tiếng việt

Con Đường Dũng Tăng

Mỗi người xuất gia ẩn chứa ba thân – Phật thân, Pháp thânTăng thân – đều cần được chăm sóc để nhú mầm giác ngộ phát triển.

  1. Phật thân là hạt giống giác ngộ, tuy yếu ớt nhưng có thể được vun bón qua tuệ giác và thực tập chánh niệm.
  2. Pháp thân là thực tại sinh động trong đời sống hàng ngày: đi, thở, nói đều phải có niệm để không làm mai một tuệ giác.
  3. Tăng thân là thân của đoàn thể xuất gia, cần quy y Tăng, dựa vào giới luật và sự dìu dắt của cộng đồng để tu không cô đơn.

Xây dựng tăng thân là công trình cao quý nhất của người xuất gia, gọi tắt là dựng tăng hay Sangha building.

  • Tình huynh đệ: nuôi dưỡng lẫn nhau qua những cử chỉ đơn giản – khen ngợi, tùy hỷ công đức, hỗ trợ khuyết điểm.
  • Pháp môn soi sáng: đại chúng họp, mỗi người góp ý về ưu khuyết điểm của đương sự, rồi viết thành thư soi sáng gồm ba phần: tưới hoa cho tích cực, chỉ rõ chỗ yếu, đề xuất phương pháp thực tập.
  • Thực tập chánh niệm xuyên suốt: mỗi bước chân, hơi thở, nụ cười đều góp phần nuôi dưỡng bản thân và tăng đoàn.

Việc xây chánh điện, dịch kinh vẫn chưa phải là trọng tâm nếu chưa có tình huynh đệ vững chãi. Mỗi giờ thiền tọa, thiền hành, pháp đàm đều phải đặt câu hỏi: công phu này có giúp nuôi dưỡng thân tâm và xây tăng thân hay không? Nếu không, phải dừng lại, điều chỉnh để không bỏ đói chính mình và cộng đồng tu tập.

Thich Nhat Hanh Tháng 9 25, 2002 Tiếng việt

Con Đường Bát Hải

Con đường xuất gia là con đường của đạo đức, của tâm linh, cách mạng bất bạo động dựa trên tâm hành bất hại (ahimsa/avihimsa) – tức tâm đại bi, không gây tàn hại cho bản thân và vạn loại sinh vật. Trong 51 loại tâm sở, bất hại là tâm hành tốt cuối cùng trong 11 tâm hành tốt, tương đương với tâm đại bi. Không phải thụ động buông xuôi, bất hại đòi hỏi sẵn sàng hi sinh để cứu vớt chúng sanh. Sĩ-đạt-ta (Đức Thế Tôn) từ chối guồng máy chính trị vốn đầy tham, sân, si, chọn con đường tâm linh trước để rồi mới giúp đời sau. Tuy không bị guồng máy chính trị vùi dập bằng tay, người xuất gia vẫn có thể lạc vào guồng máy tu học, khiến sơ tâm – tâm bồ đề ban đầu – tiêu vong nếu thiếu chánh tư duy và chánh niệm.

Con đường tám sự hành trì chân chánh (Bát Chánh Đạo) được trình bày qua ba yếu tố gắn bó chặt chẽ:

  • chánh niệm – khả năng an trú trong hiện tại để nhận diện mọi động cơ, giải thoát khỏi tham sân si và danh lợi
  • chánh định – duy trì tuệ giác về vô thường, vô ngã, duyên sinh trong từng hơi thở, bước chân, hành động
  • chánh tuệ – thành tựu từ định, kiến giải phù hợp với thực tại, làm phát khởi chất liệu tâm từ bi chân thật
    Thực tập niệm–định–tuệ giúp chế tác tình thương hằng ngày, để lời nói, hành động và di sản duy nhất còn lại khi ta “qua đời” không phải là công trình trần thế mà là trái tim nhân ái, lời tha thứ và hành động cứu khổ.
Thich Nhat Hanh Tháng 9 24, 2002 Tiếng việt

Lý Tưởng Và Tình Thương

Hôm nay giới thiệu khái niệm guồng máy như một cỗ máy chính trị – tôn giáo nguy hiểm, có thể nghiền nát tâm huyết thanh niên yêu nước.

  1. Cuộc cách mạng Trung Quốc 1911 chuyển từ chế độ phong kiến nhà Thanh sang nước Cộng hòa (Republic), với Phổ Nghi thoái vị, Tôn Dật Tiên về làm tổng thống đầu tiên rồi nhường cho Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai-shek)
  2. Hai đảng Quốc dân Đảng (Kuomintang) và Đảng Cộng sản Trung Quốc liên minh rồi tranh giành quyền lực, dẫn tới thanh trừng nội bộ khiến hàng trăm ngàn thanh niên yêu nước bị chết
  3. Thanh niên Việt Nam thời trước 1945 đã gia nhập cả Quốc dân Đảng Việt Nam lẫn Đảng Cộng sản Việt Nam, bị cuốn vào guồng máy quốc tế do Moscow chỉ đạo, rồi nếm trải cảnh thanh toán lẫn nhau – điển hình trong tiểu thuyết Dòng sông Thanh Thủy (Nhất Linh) ba người bộ hành bị lệnh tiêu diệt nhau trên đường về nước

Từ guồng máy chính trị chuyển sang guồng máy tôn giáo, Phật giáo Việt Nam cũng không tránh cảnh bức bách, thủ tiêu:

  1. Thượng tọa Thích Mật Thể – tác giả Việt Nam Phật giáo sử lược – bị bao vây, bỏ đói cho đến khi phải di cư, nhiều tín đồ trẻ không được xuất gia suốt thời chia cắt
  2. Cụ Thiều Chửu – chủ biên Hán-Việt Từ điển, nuôi 70 trẻ mồ côi ở chùa Quán Sứ – bị ép tự tử, cho thấy guồng máy công quyền nhìn tôn giáo là “thuốc phiện”
    Bài học then chốt: tình yêu và lý tưởng chỉ có thực chất khi không tách rời mạng sống đồng bào. Tinh thần phá chấp – như trong kinh Kim Cương, 14 giới Tiếp Hiện – là con đường để giáo pháp không trở thành guồng máy cuồng tín, giúp vượt lên mọi chủ nghĩa, giáo điều.
Thich Nhat Hanh Tháng 9 23, 2002 Tiếng việt

Chúng Ta Là Ai

Ba câu hỏi nền tảng khởi đầu cho hành trình tu học

  1. Ta là ai
  2. Ta đang làm gì ở đây
  3. Ta đang đi về đâu, hướng về phương nào

Trong đời sống thường ngày, ta dễ rơi vào ảo tưởng rằng biết mình là ai và biết con đường mình đang đi. tu học là phép nhìn lại tri giác để thấy những sai lầm, điều chỉnh chúng và khơi dậy tuệ giác, nhờ đó nhận diện rõ đích đến thật sự.

Con đường của người xuất gia và của Siddhartha được thúc đẩy bởi hai nguồn năng lượng bất biến

  • tình yêu: thương tổ tiên, văn hóa, quê hương, gia đình và chính mình
  • cách mạng: quyết tâm đập đổ cấu trúc cũ đầy phiền não, xây dựng một trật tự mới dựa trên an lạc, hạnh phúc, công bằng xã hội

khác với cách mạng chính trị đầy bạo lực và mâu thuẫn, cách mạng của đạo Phật là cuộc cách mạng bất bạo động, bắt đầu từ chuyển hóa nội tâm, từ bỏ sân hận, tham ái, si mê. Cái tâm bồ đề, tâm từ bi và tình huynh đệ–được biểu tỏ qua hành động hy sinh bất bạo động của Thích Quảng Đức và bài thơ Lửa Từ Bi–là năng lượng mạnh mẽ để thay đổi cá nhân và xã hội một cách chân thành, trong sáng.

Khóa tu này mời mỗi người tự vấn ba câu hỏi nền tảng, thắp lên nguồn năng lượng của tình yêu và ý chí cách mạng bất bạo động, để tuổi trẻ tinh thần không phai nhạt, bàn tay không dính máu và mỗi bước đi đều đưa cả dòng họ, tổ tiên, tăng thân và thế hệ mai sau tiến về bến bờ hòa bình, hạnh phúc.

Thich Nhat Hanh Tháng 9 21, 2001 Tiếng việt

Công Trình Chuyển Y, Đi, Lạy, Ngồi Thiền

Thầy kể về em trai tên là Song, vừa viên tịch ở Chicago gần tuổi bảy mươi, vốn có năm người con gọi là Ngũ Long công chúa, có ba đức tính hiền hòa, hiếu lễ và trung kiên. Sau bao năm xa cách, khi Song sang Mỹ tu học, đã bỏ bia rượu, phim chưởng, thuốc lá, chỉ nghe dharma talk và nhạc Làng Mai, chuyên cần thực tập, luôn hoài niệm vườn cải hoa vàng đầy bướm ngày xưa. Thầy xác tín Song đang tiếp tục hiện diện qua chúng con, qua con cháu và đệ tử được thừa hưởng ba đức tánh của ông.

Thầy chia sẻ kế hoạch đăng thông điệp về từ bi và tha thứ trên New York Times ngày 25/9 với một trang trọn ngày trả 40.000 USD và một phần tư trang ngày kế tiếp, kêu gọi Mỹ đáp ứng bạo động bằng từ bi. Theo thăm dò, 71% dân Mỹ ủng hộ trả đũa, trong khi Thượng nghị sĩ John McCain tuyên bố không khoan nhượng kẻ thù. Thầy dự buổi diễn thuyết tại Riverside Church về “đáp ứng với bạo động bằng từ bi”, trích lời thánh kinh Saint Luke “Father, please forgive them because they know not what they do” và bài thuyết giảng trên núi về yêu thương kẻ thù, đồng thời khuyến khích hai hình thức của tha thứ – tuyên bố và chương trình chăm sóc nạn nhân.

Thầy hướng dẫn thực tập chánh niệm qua ba pháp cơ bản:

  • Thiền đi: dùng “chân của Bụt”, phối hợp hơi thở với bước chân theo The Long Road Turns into Joy để nuôi dưỡng tự tại.
  • Thiền lạy: ba bước – tiếp xúc (đưa tay lên trán, về tim, chống đất), buông bỏ (ngửa tay chứng tỏ không ngã riêng biệt), tiếp nhận (hít thở, mở lòng với tổ tiên, Bụt, Bồ Tát và đất mẹ) – nhằm hóa giải giận hờn, tự tôn, tiếp nối nguồn mạch.
  • Thiền ngồi: điều thân (ổn định cơ thể), an tịnh tâm (ổn định cảm xúc), sau đó hoặc nhận diện đơn thuần mọi cảm xúc xuất hiện, hoặc thiền hướng dẫn theo chủ đích (ví dụ tụng kinh sơ tâm – Bồ đề tâm kia, xuất thế gian giác…). Đại chúng được khích lệ phối hợp hơi thở chánh niệm trong đời sống thường nhật để khi ngồi thiền không bị “gà vọc niêu tôm” (tâm bị cuốn đi) và tinh thần gia đình tâm linh, thầy trò, huynh đệ được vun đắp qua việc thực tập chung.
Thich Nhat Hanh Tháng 9 19, 2001 Tiếng việt

Hoa Trái Cho Nhau

Giây phút hiện tại là nơi duy nhất cây đèn nến tỏa chiếu hào quang, vẻ đẹp và sức nóng của nó; nếu ta lo chạy theo tương lai, ta không còn năng lượng cho hiện tại. Dồn hết tâm lực vào các dự án xây dựng chùa, bằng cấp hay từ thiện mà bỏ quên giây phút hiện tại là rơi vào tư niệm thực, chướng ngại cho sự sống và thực tập. Để quản lý giây phút hiện tại, chỉ cần như thử hạt cơm: lấy ra một giây để phân chất xem trong đó có

  • chất liệu của sự nuôi dưỡng thân tâm
  • chất liệu của sự trị liệu thân tâm
  • chất liệu của an vui, hạnh phúc và tiến tu
    nếu không, cả “nồi cơm” đời sống đang khê, đang sống dở.

Người xuất gia ví như cây cam – có mặt để tạo ra hoa trí tuệ, hoa từ bi, trái hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại; không đợi tương lai mới cống hiến. Sự thành công phụ thuộc vào hai loại báo trong nghiệp báo:

  • chánh báo (nature/tiên thiên) – hình hài, hạt giống tâm thức thừa tự từ cha mẹ
  • y báo (nurture/hậu thiên) – hoàn cảnh, môi trường nuôi dưỡng
    Tăng thân đúng nghĩa là môi trường nuôi dưỡng lành mạnh, xây dựng được tình huynh đệ trên nền tảng lý tưởng bồ đề tâm. Mỗi bước chân, mỗi nụ cười, mỗi lời nói có chánh niệm đều là một tặng phẩm nuôi dưỡng tăng thân, giúp ta và các sư anh, sư chị, sư em tiến xa trên con đường tu học.
Thich Nhat Hanh Tháng 9 18, 2001 Tiếng việt

Nguồn Ánh Sáng Vô Lượng

Sau khi đèn cầy cháy hết không còn sáp và bấc, không có “đèn cầy” nguyên thủy ấy nữa, nhưng ngọn lửa và năng lượng của nó tiếp tục hiện diện dưới dạng ánh sáng, hơi nóng, tro, rồi có thể trở thành lá cây hay bài thơ… đó là nguyên lý duyên sinh: mọi hiện tượng không sinh từ không mà biểu hiện khi đủ duyên và không diệt mà chỉ ẩn tàng khi duyên mất. Quan niệm này phân biệt với hai tà kiến đối nghịch là

  • Đoạn kiến tin rằng sau khi cháy hết thì tuyệt đối không còn;
  • Thường kiến tin rằng ngọn lửa cứ mãi không thay đổi.

Giáo lý còn chỉ thêm hai tà kiến nữa: Nhất kiến cho rằng hai ngọn lửa trước và sau là một; Dị kiến cho rằng chúng hoàn toàn khác. Ngoài bốn mệnh đề này (còn – không còn – vừa còn vừa không – không còn cũng không không còn) không có cách trả lời nào khác. Tu hành chính là nhìn thấy vô sanh (the unborn) của tất cả pháp, nghĩa là không phải sinh diệt, chỉ có biểu hiện và ẩn tàng.

Thực tập chánh niệm và tuệ giác Trung Quán giúp ta:

  1. Nhìn thấy đèn cầy, bản thân và người thương không sinh không diệt, vượt qua ý niệm về sinh, diệt, thường, đoạn, nhất, dị.
  2. Thấu hiểu quá khứ, hiện tại, tương lai tương tức – quá khứ chưa mất, tương lai đã có mặt trong hiện tại – nên có thể chuyển hóa khổ đau và kiến tạo hạnh phúc ngay trong từng giây phút.
Thich Nhat Hanh Tháng 9 17, 2001 Tiếng việt

Lễ Khai Mạc Khóa Tu - Nương Tựa A-Di-Đà

Trong ngôn ngữ Phật giáo có thể sử dụng đồng thời các tên sau để phân biệt rõ các hàng tại gia và xuất gia

  • cận sự: người gần gũi giới xuất gia
  • cư sĩ: người còn ở trong nhà, đối lại với xuất sĩ
  • tại gia: cư sĩ nam và cư sĩ nữ
  • xuất gia (xuất sĩ): xuất gia nam và xuất gia nữ

Kinh Sơ Tâm là bài tụng tự thân mỗi hành giả phải ghi chép bằng cảm nghiệm cá nhân, tụng mỗi ngày để nuôi dưỡng nguồn năng lượng ban đầu đã thúc đẩy ta bỏ tất cả để xuất gia. Nội dung khi đọc lại cần ghi rõ

  1. Ước muốn ban đầu và hành trình vượt trở lực để được xuất gia
  2. Niềm vui, hạnh phúc khi vừa được chấp nhận xuất gia
  3. Các chi tiết về thao thức, trăn trở nhằm khơi dậy lại khối lửa sơ tâm

Bài phát nguyện Tịnh Độ (trang 33) gồm tám câu khái quát giáo lý tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ và thực tập niệm Phật nhất tâm bất loạn dẫn đến “chín phẩm sen hiện tiền, tự tha đều thọ dụng”. Chính niệm về A Di Đà nơi bản môn mầu nhiệm cùng ánh sáng vô lượng quang và thọ mạng vô lượng sẽ soi chiếu, chuyên chở hành giả đạt được an lạc mỗi bước đi và chuyển hóa phiền não, từ đó “tịnh độ đi từng bước vững chãi và thảnh thơi ngay bây giờ và ở đây”.