Recommended References

Công khai
Tuyển chọn bởi Tri Duong
Cập nhật lần cuối Tháng 4 9, 2026
Thich Nhat Hanh Tháng 12 3, 2009 Tiếng việt

Nguồn Gốc Và Phát Triển

*Bài kệ đầu tiên trong Kinh Pháp Cú được dịch từ Pali vào thế kỷ thứ ba bởi cư sĩ Chi Khiêm, dựa trên hai nguồn tư liệu Phật giáo: một từ Sanskrit (tông Sarvāstivāda) và một từ Pali (tông Xích Đồng Diệp Bộ – Tamrasatiya, sau này là Thượng Tọa Bộ/Theravāda). Sau hơn một trăm năm đoàn kết, giáo đoàn phân chia thành hai phái: Thiểu số bảo thủ (Hữu Bộ, chủ trương thực tại luận) và đa số tiến bộ (Đại Chúng Bộ – Mahāsanghika). Vua A Dục và con trai Mahinda đã truyền Phật pháp Xích Đồng Diệp Bộ sang Tích Lan, để lại các bản kinh Pali Nam truyền với 26 phẩm tương ứng. Kinh Pháp Cú chữ Hán mở rộng thành 39 phẩm (8 phẩm đầu trích từ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, 26 phẩm giữa tương đương bản Pali, 5 phẩm cuối từ Xích Đồng Diệp Bộ).

*Bài giảng nhấn mạnh tám phương diện thực hành cốt lõi:

  1. Niềm tin chân thật vào Chánh pháp (ký hiệu “Nhạo” – ham thích thực hành).
  2. Không cầu may vô lý hay tín ngưỡng mù quáng.
  3. Chọn và tạo dựng môi trường sống lành mạnh (“Trạch thiện cư”).
  4. Tiết chế, giữ giới luật như “the law of moderation” để tự do thật sự.
  5. Hiếu dưỡng cha mẹ, quản lý gia đình, trì giữ phước đức.
  6. Không kiêu mạn, biết tri túc (Santuṣṭa) và xét suy kỹ càng (niệm “phản phúc”).
  7. Lắng nghe pháp và lập tức hành trì (tâm “tiếp tựu”).
  8. Thực tập chánh niệm trong từng giây phút hiện tại (“This is a happy moment”).
Thich Nhat Hanh Tháng 7 9, 2000 Tiếng việt

Trước Khóa Tu Hè

Bài thơ nhị thập bát tú gồm bốn câu bảy chữ mỗi câu, tổng cộng hai mươi tám chữ, chứa hai dấu đặc biệt:

  • dấu hỏi – biểu tượng cho sự chất vấn về kiếp người đầy thắc mắc và băn khoăn
  • dấu than – biểu hiện khẳng định, sự kết thúc như tiếng đinh đóng vào săng, là câu trả lời cuối cùng cho chuỗi câu hỏi của cuộc đời

Cuộc sống con người luôn bao quanh bởi những dấu hỏi lớn về nguồn gốc, ý nghĩa và định mệnh, khiến “con sên bò nát óc, máu thầm rơi”. Có hai loại người không bị khổ vì những câu hỏi đó:

  1. những người giàu quá – bận rộn chạy theo vật chất, không có thời gian tự vấn bản thân
  2. những người nghèo quá – dồn hết tâm trí để kiếm sống, không đủ điều kiện chiêm nghiệm

Đạo pháp không thể đạt được chỉ qua trí năng, mà cần sự hòa hợp thân–tâm, ý thức và tàng thức, thực hành chánh niệm, niệm, địnhtuệ trong từng giây phút. Ví dụ công việc thường nhật cũng là pháp tu:

  • thở vào–thở ra
  • quét nhà
  • rửa nồi
  • lặt rau
  • lái xe
    khi làm bằng toàn bộ con người thì mỗi hành động trở thành cơ hội vun bồi đại tríđại bi, thể hiện chân lý “there is no way to enlightenment – enlightenment is the way” (satori).
Thich Nhat Hanh Tháng 3 16, 2006 Tiếng việt

Việc Đáng Làm

Ngồi thiền là phép lạ giản đơn mà sâu sắc: chỉ “có mặt thật sự trong sự sống”, không để tâm chạy trốn. Thiền không chỉ mang lại an lạc, mà còn là cơ hội để dũng cảm đối diện và nhổ tận gốc rễ phiền não – từ mâu thuẫn gia đình, xã hội đến ghen tị trong tăng thân. Như con thỏ trong hang, tạm tìm được bình yên, nhưng cuối cùng vẫn phải ra ngoài sống; tương tự, nếu ta chỉ “trú ẩn” trong thiền để tránh khó khăn, thì đó chưa phải thực tập chân thật. Trong tăng thân, chính những ganh tị, giận hờn, như trường hợp vị tỳ-kheo sinh bệnh ngoài da hay thầy A Nan bị hiểu lầm, là cơ hội để tập chánh niệm và chuyển hóa.

Xây dựng tăng thân đòi hỏi kiên nhẫn và bồ đề tâm lớn, không chỉ “thụ hưởng” mà phải vun đắp, nâng chất lượng chung từ mức 40% lên cao hơn. Đức Thế Tôn đã huấn luyện gần nghìn đệ tử trong khoảng hai tháng, từng bước từ đi, đứng, nằm, ngồi đến nói lời ái ngữ, vượt qua những vụng dại và nhóm “lục quần tỳ kheo” – sáu vị gây phiền toái – để rồi thành tăng đoàn hùng mạnh. Hơn hai mươi lăm năm qua, con đường “tùy xứ tác chủ” – dù hoàn cảnh nào cũng giữ thế chủ động, không nạn nhân hóa – và “lập xứ tắc chân” – giữ vẹn bản thể không mang mặt nạ – là kim chỉ nam để mỗi thành viên góp phần làm cho tăng thân trong sạch, đẹp và hữu hiệu trong hoằng pháp.

Thực tập chánh niệm không chỉ trong thiền tọa hay hành, mà trong mọi sinh hoạt hằng ngày: rửa rau, nấu cơm, mua bán, viết thư pháp, hái cà chua… An lạc trong từng động tác mới là chiến lợi phẩm lớn của người tu hành. Khi giữ được thảnh thơi suốt ngày, ta trở thành “chuông chánh niệm” cho người xung quanh, lời nói và phương pháp mới có sức thuyết phục. Xây dựng tình huynh đệ chân thật qua lắng nghe và ái ngữ, nhận diện yếu kém, soi sáng và hỗ trợ nhau, là trách nhiệm thiết thực của mỗi cá nhân trong tăng thân.

Thich Nhat Hanh Tháng 10 21, 2004 Tiếng việt

Di Bộ Tông Luân Luận 6

Thực tập lạy địa xúc là quá trình ngược lại với việc đổ đầy xăng; đó là cơ hội để faire le vide, làm cho bản thân trở nên trống rỗng bằng cách buông bỏ kiến thức, danh vọng, bằng cấp và cả những mặc cảm. Khi năm vóc sát đất và xòe bàn tay, người thực tập buông xả cái tôi để trở thành một pháp khí mầu nhiệm, không còn bị kẹt vào sự cung kính hay lợi dưỡng. Sự hạnh phúc trong tăng thân tùy thuộc vào khả năng phó thác sinh mạng như một giọt nước hòa vào dòng sông, thay vì giữ lại những đòi hỏi cá nhân hay những hạt giống tủi hờn từ quá khứ.

Các luận điểm từ 42 đến 48 trong Duy-bộ-tôn-luân-luận khẳng định tâm tính vốn trong sáng và phiền não chỉ là khách. Tùy miên là những khối phiền não nằm ngủ, không phải là tâm hay tâm sở và không có đối tượng, khác với triền là sự ràng buộc và sử là sự thúc đẩy. Các hiện tượng được phân chia thành năm phạm trù:

  1. Sắc pháp
  2. Tâm pháp
  3. Tâm sở pháp
  4. Tâm bất tương ứng hành pháp
  5. Vô vi pháp

Về nhận thức, 12 xứ bao gồm:

  1. Nhãn xứ
  2. Nhĩ xứ
  3. Tị xứ
  4. Thiệt xứ
  5. Thân xứ
  6. Ý xứ
  7. Sắc xứ
  8. Thanh xứ
  9. Hương xứ
  10. Vị xứ
  11. Xúc xứ
  12. Pháp xứ
    Trong đó, pháp xứ không phải là đối tượng mà thức có thể thông đạt. Quá khứ và vị lai không có thực thể chân thật, đồng thời không có sự tồn tại của trung ấm thân và người đắc quả dự lưu có khả năng đạt định lực.