Truyền Thống Sinh Động

Publique
Organisés par Living Gems

Danh sách phát này được tạo tự động. Một số bài nói chuyện có liên quan từ chuyến tham quan hoặc tĩnh tâm này có thể bị thiếu.

Dernière mise à jour juillet 11, 2025
Thich Nhat Hanh février 13, 1997 Vietnamien

Đối Thủ Tư Tử

Hôm nay là ngày tự tứ kết thúc khóa tu mùa đông, buổi lễ tự tứ được tiến hành theo truyền thống khất sĩ với các bước chính:

  1. Tác pháp yết ma xác nhận ngày tự tứ đúng pháp, giữ im lặng vài chục giây để dò hỏi có ai phản đối hay nghi ngờ không
  2. Gửi đại diện nữ khất sĩ để cầu thỉnh giáo giới, đại diện nữ khất sĩ quỳ xuống xin yểm trợ và thăm hỏi từ Tăng đoàn
  3. Đề cử người nhận tự tứ bằng tác pháp yết ma (thông thường ba người, đông hơn thì bầu thêm thành sáu hay chín), những vị này phải có năm đức:
    • không yêu
    • không ghét
    • không rụt rè (can đảm nói thẳng)
    • khả năng quan chiếu
    • biết cử tội đúng chánh pháp và sử dụng ái ngữ
  4. Vị cao niên nhất (thượng tọa) tự tứ trước, tiếp theo ba (sáu, chín) vị nhận tự tứ làm lại cho nhau, rồi cả Tăng thân quỳ xuống tự tứ ba lần, phát nguyện sám hối và tu tập chuyển hóa

Bên cạnh nghi lễ tự tứ, Làng Mai đã khai triển nhiều phương pháp thực tập suốt năm để nuôi dưỡng hạnh phúc chân thậtđốn ngộ tức thời:

  • Thực tập xoa bóp có chánh niệm mỗi ngày (đầu, vai, lưng, tay, chân) để lưu thông máu huyết, tăng sinh lực và giảm thuốc men
  • Viết về khổ đau – hạnh phúc, chia sẻ trong văn tập kỷ niệm 15 năm Làng Mai (ví dụ I find great happiness in not having any money)
  • Các phép thực tập đốn ngộ gọn nhẹ ngay trong sinh hoạt thường nhật:
    • giận nhau trong bản môn: nhắm mắt, thở, quán chiếu “trong 300 năm nữa em đâu và tôi đâu”
    • ngồi thiền trong bản môn: “giây nào cũng thành đạo, cội nào cũng Bồ đề, tòa nào cũng Đa Bảo”
    • ăn cơm nơi tích môn: “nhiệm mầu ta nuôi nhau” (ăn cho tổ tiên, cho tương lai)
    • pháp đàm trong bản môn: “ta nhìn ngươi mỉm cười, ngươi chính là ta đó”
    • đi chơi, thiền hành: “tay ta nắm tay người” như đi với Bụt
      Những thực tập này giúp Bát Kỉnh Pháp nhẹ nhàng, dễ thương, nuôi dưỡng an lạc, tuệ giác tức khắc trong từng khoảnh khắc của đời sống xuất gia.
Thich Nhat Hanh février 6, 1997 Vietnamien

L’histoire des ordures transformées en fleurs

Le vase de fleurs offert au Bouddha contient à la fois des fleurs et des déchets : feuilles sèches, coquilles d’œuf, peaux de banane, poussière, morceaux de plastique… L’intention du pratiquant est “d’offrir la conscience, l’éveil” et de savoir transformer les déchets en fleurs grâce à la pleine conscience. Certains déchets deviennent rapidement des fleurs (feuilles sèches, peaux de banane en quelques mois), d’autres prennent plus de temps (le plastique met plus longtemps), les couches jetables nécessitent deux cents ans, les déchets nucléaires des dizaines de milliers d’années.

Dans la vie quotidienne, notre esprit produit aussi des déchets — peur, tristesse, anxiété, colère — qui polluent le corps, l’esprit et l’environnement autour de nous. La pleine conscience nous aide à reconnaître “ce qui est déchet, ce qui est fleur”, à savoir gérer, préserver les fleurs et trouver des moyens de transformer les déchets en fleurs, ce que l’on appelle le parfum de la sagesse.

La chanson “La tombe du siècle” part de l’image d’enterrer les restes du vingtième siècle — fascisme, pauvreté, violence, haine — pour les décomposer en “jeunes pousses qui germent, herbe tendre sur laquelle les amoureux peuvent s’allonger” et finalement faire éclore “la fleur de l’amour” pour le vingt-et-unième siècle. Ensemble, enterrons les déchets, semons les graines de fleurs pour l’avenir.

Thich Nhat Hanh janvier 26, 1997 Vietnamien

La pleine conscience de la respiration dans chaque geste

La pleine conscience de la respiration est la méthode royale au Village des Pruniers, aidant à reprendre la souveraineté (an ban thủ ý) dans l’instant présent. Avec seulement quelques respirations conscientes, nous pouvons retrouver stabilité et détente : respirer purement (seulement la respiration), ou respirer en reconnaissant ce qui se passe (le son de la cloche, la couleur du ciel, le rire d’un enfant…). Grâce à la respiration en pleine conscience, nous embrassons et regardons profondément (vipassanā) la réalité afin de comprendre clairement et de ne pas commettre d’actions ou de paroles erronées.

Toutes les activités quotidiennes – cuisiner, laver la vaisselle, fendre du bois, porter l’eau – deviennent des pratiques de chấp tác (karma yoga) lorsqu’elles sont accomplies avec la respiration consciente et les gathas pour guider. La pratique ne réside pas seulement dans les deux séances de récitation ou de méditation assise, mais est présente à chaque instant : « Merveilleux, je porte l’eau », « Merveilleux, je fends du bois ».

En utilisant le livre Le lotus en bouton s’ouvre pétale après pétale comme manuel de méditation, le monastère présente quatre gathas fondamentaux pour pratiquer la méditation assise, la marche méditative et la méditation du repas :

  1. Je suis arrivé – je suis chez moi
  2. Ici, c’est la Terre Pure
  3. Je reviens prendre refuge
  4. Entrer, sortir, profond, lent

La marche méditative – chaque pas détendu – nous aide à nous arrêter dans « ici et maintenant », là où l’ordinaire et le sacré cohabitent, ouvrant le domaine merveilleux de la non-naissance et de la non-mort, ici même sur cette terre.

Thich Nhat Hanh janvier 19, 1997 Vietnamien

Silence Noble, Assis en Paix

  1. Les quatre conditions pour que la pleine conscience puisse naître et être nourrie :

    1. Condition de la graine (nhân duyên) : le potentiel ou l’habitude de la pleine conscience qui a été cultivé.
    2. Condition de l’objet (sở duyên duyên) : l’objet de la pleine conscience, par exemple “je suis en train d’inspirer” ou “je suis en colère”.
    3. Condition de soutien (tăng thượng duyên) : les circonstances favorables (ou défavorables qui deviennent favorables) qui aident la pleine conscience à grandir.
    4. Condition de non-interruption (đẳng vô gián duyên) : maintenir le courant de la pleine conscience sans interruption.
  2. Pratique de la pleine conscience de la respiration et transformation du corps et de l’esprit :

    • Commencer par la simple reconnaissance : inspirer, savoir que l’on inspire ; expirer, savoir que l’on expire, sans jugement ni intervention.
    • Lorsque la respiration a acquis de la qualité, passer à :
      • Inspirer/Expirer → Profond/Lent → Sain/Léger
      • Apaiser les formations corporelles : embrasser le corps avec la respiration en pleine conscience pour calmer les tensions.
      • Apaiser les formations mentales : embrasser la tristesse, la colère, l’inquiétude avec la respiration afin de transformer l’agitation.
    • Méthode de purification de la parole : dans la famille de pratique, n’utiliser que deux phrases convenues (“Que puis-je faire pour t’aider ?” et “Ce que je fais te convient-il, as-tu besoin que je change quelque chose ?”) pour transformer les conflits et nourrir l’amour.
Thich Nhat Hanh janvier 12, 1997 Vietnamien

Sutra de l’Exemple

Se prosterner n’est pas pour supplier, mais c’est un acte de retour à notre nature véritable, à notre source. Lorsque nous déposons les cinq parties du corps au sol, nous laissons tomber le moi et toutes les afflictions. Les trois prosternations correspondent aux trois voies de la pratique :

  1. la première prosternation suit une ligne droite de haut en bas (retourner à la terre, s’incliner),
  2. la deuxième prosternation suit une ligne horizontale (élargir le contact),
  3. la troisième prosternation suit une ligne circulaire (englober l’infini).
    Ce retour s’accomplit à chaque respiration, à chaque son de cloche, à chaque pas paisible.

Sur la base de la prosternation, nous pratiquons les quatre demeures incommensurables (Amour bienveillant, Compassion, Joie, Équanimité), embrassant les dix directions et le centre du cœur (sabbattatāya) – s’identifier à tous les êtres, aller très loin, devenir illimité, “sans haine, sans affliction”, l’esprit vaste et profond, immensément ouvert sur le monde.

Le Sūtra de la Parabole de l’Eau (Trung A Hàm 25 – Āghātavinaya Sutta AN III.186) enseigne cinq méthodes pour dissiper la colère :

  1. L’action est difficile à aimer, mais la parole est aimable – se concentrer sur la parole.
  2. La parole est difficile à aimer, mais l’action est aimable – se concentrer sur l’action.
  3. L’action et la parole sont difficiles à aimer, mais il reste un peu de bonté dans le cœur – se concentrer sur cet aspect aimable.
  4. Lorsque les trois ne sont pas aimables – susciter la compassion, secourir celui qui souffre.
  5. Lorsque les trois sont aimables – se réjouir, abandonner la jalousie.
Thich Nhat Hanh janvier 28, 1996 Vietnamien

Thượng Không Phải Là Hưởng Thụ & Cư Trần Lạc Đạo (Hồi 3)

pháp thoại viễn thông lần hai được thực hiện ngày 28-1-1996 từ Làng Mai đến thiền đường Cam Lộ–Úc, với khoảng 100 người nghe tại Cam Lộ và tăng thân Làng Sen Búp. Nội dung buổi pháp tập trung vào Cư Trần Lạc Đạo của Trúc Lâm Đại Sĩ, sau khi giới thiệu khóa tu mùa Đông với các thiền sư đời Trần:

  1. Trần Thái Tông
  2. Thượng Chiếu
  3. Tuệ Trung Thượng Sĩ
  4. Trần Nhân Tông (Trúc Lâm Đại Sĩ)

Thầy nhắc đi nhắc lại lần thứ 1.250 rằng tình thương phải được làm bằng hiểu biết: chỉ khi từng trải khổ đau mới thương không đem lại tổn thương; thương đích thực còn là chủ thể đem năng lượng thương yêu đến cho người khác. Nếu vội vàng ra phục vụ, thiếu tu tập với tăng thân, sẽ dễ khổ đau và thất bại.

Trước khi học Cư Trần Lạc Đạo hồi ba, thầy căn dặn:

  • Giữ gìn tính sáng, đừng lạc tà đạo” – tức quán chiếu để hiểu rõ và không bị kéo theo những dòng tư tưởng sai lầm.
  • Sửa mình học cho phải chính tông” – thực tập chánh niệm, giới, định, tuệ như lời dạy của Bụt.
  • Kiến hòa đồng giải, khẩu hòa vô tranh” – tổng hợp thấy chung, dùng ái ngữ để không làm tổn thương nhau, khởi nguồn cho sự hòa hợp và hạnh phúc nơi chính tăng thân.
Thich Nhat Hanh janvier 14, 1996 Vietnamien

Cái Nhìn Bất Nhị

Tuệ Trung Thượng Sĩ tên thật là Trần Quốc Tung, anh cả của tướng Trần Quốc Tuấn, chứ không phải Trần Quốc Tảng như vẫn lầm suốt gần 500 năm do Hoàng Việt Thi Tuyển (đời Lê) ghi chép. Năm 1971 tại Paris tôi phát hiện sai lầm này khi tra cứu Thượng Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, Tam Tổ Thực LụcĐại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục trong chùa, rồi công bố tại Sorbonne năm 1972 và tại Sài Gòn năm 1973. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư vốn do Ngô Sĩ Liên biên tập có thành kiến Nho giáo, đã bỏ sót nhiều chi tiết Phật giáo, nên cần đối chiếu với thư tịch chùa để phục hồi chính xác sử liệu.

Giáo lý cốt lõi của Tuệ Trung Thượng Sĩ là phá hủy mọi nhị kiến – phân chia phàm/thánh, mê/ngộ, sinh tử/niết bàn – bằng cách quán chiếu bản chất vô tướng, sunyata (rỗng không) và vô nguyện. Ba cánh cửa giải thoát (tam giải thoát môn) được trình bày như sau:

  1. Vô tướng: tiếp xúc bản tính không tướng của thân và vạn vật, nhìn mà không bị kẹt vào tướng.
  2. Không (sunyata): nhận ra không có tự tánh độc lập, mọi pháp tùy duyên hiển lộ đồng hiện pháp giới.
  3. Vô nguyện (vô tác): không nắm bắt, không buông bỏ, an trú ngay giây phút hiện tại, hạnh phúc tự sinh.

Áp dụng phương pháp này, chỉ cần buông bỏ cặp mắt lưỡng nguyên thì pháp giới tịnh bao dung sẽ tự hiển lộ, đem lại an lạc và giải thoát tức khắc.

Thich Nhat Hanh janvier 4, 1996 Vietnamien

Thiền Sư Thiên Chiếu

Mỗi thiền sinh phải đi cầu ít nhất sáu người soi sáng cho mình bằng tất cả tấm lòng, có thể là thầy, bạn hay người không có mặt trong khoá tu. Sau khi chọn được một người tin cậy, viết thơ cá nhân trình bày mong ước được soi sáng, xin đề cử thêm năm người nữa. Khi nhận được thư soi sáng, lạy ba lạy trước khi đọc, tiếp nhận lời khuyên bằng tấm lòng biết ơn. Đại chúng có 15 ngày để thực tập truyền thống tự tứ lâu đời này.

Thiền sư Thường Chiếu – thuộc phái Vô Ngôn Thông nhưng từng trụ trì chùa Lục Tổ (Tỳ Ni Đa Lưu Chi) – đã đóng góp quan trọng cho lịch sử Phật giáo Việt Nam bằng việc sưu tập, truyền lại tài liệu dẫn đến tập sách Thiền Uyển Tập Anh. Ngài nhấn mạnh tâm học: tu hành nếu biết rõ đường lối vận hành của tâm ( nhận diện đơn thuần ) thì phí ít sức mà thành công lớn, ngược lại sẽ mệt mỏi vô ích.

Các bước tu tập theo Thường Chiếu:

  1. Nhận diện đơn thuần mọi hiện tượng tâm lý (vui, buồn, giận, sợ…) khi nó phát khởi, chỉ biết “tôi đang giận” hay “tôi đang buồn” mà không phê phán hay đàn áp
  2. Dùng năng lượng chánh niệm ôm ấp, quán chiếu tâm hành như mẹ ôm con, chuyển hóa dần gốc rễ của khổ đau
  3. Giữ chánh niệm (hơi thở, bước chân, niệm Bụt) để mời tâm hành tích cực lên và nuôi dưỡng cho lớn mạnh, ngăn hạt giống tiêu cực sinh khởi

Thiền sư kết luận đạo vốn bất khả đắc – tìm bên ngoài chỉ phân tâm – vì Pháp thân (tâm là Như Lai tạng) chiếu sáng mười phương ngay trong giờ phút hiện tại.

Thich Nhat Hanh décembre 14, 1995 Vietnamien

Thiền Phò & Như Yếu Của Vua

Thiền phổ là tập chỉ dẫn thiền tập cần được sử dụng hằng ngày như nhạc khí trong tay người nhạc sĩ. Sen Búp Từng Cánh Hé, với khoảng 40 bài tập phối hợp hơi thở vào-ra và nụ cười, cho phép thiền giả chọn lọc các đoạn phù hợp và luyện tập từ 10–20 giây đến vài tuần. Ví dụ bài núi vững vàng: thở vào hình dung mình là đỉnh núi, thở ra cảm nhận tính vững chãi; bài nuôi dưỡng với kệ:

  • Thở vào, biết thở vào
  • Thở ra, biết thở ra
  • Hơi thở vào đã sâu
  • Hơi thở ra đã chậm
  • Thở vào, tôi thấy khỏe
  • Thở ra, tôi thấy nhẹ
  • Thở vào, tâm tĩnh lặng
  • Thở ra, miệng mỉm cười
  • An trú trong hiện tại
  • Giây phút đẹp tuyệt vời

Thiền tập còn là thức ăn cho thân-tâm (thiền duyệt vi thực) và có tác dụng trị liệu: khi bồn chồn hay buồn đau, thiền giả ôm lấy cảm xúc ấy qua chánh niệm — thở vào biết “tôi đang bồn chồn/buồn đau”, thở ra “tôi mỉm cười với bồn chồn/buồn đau” — để xoa dịu, chuyển hóa.

Phương pháp quán tưởng bốn đại (đất, nước, gió, lửa), đại thứ năm (không gian) và thức, rồi mở rộng ra bên trong–bên ngoài, giúp nhận diện trùng trùng duyên khởi, xóa tan cái ngã riêng biệt. Thiền hành, ba lễ lạy hằng ngày cũng là cơ duyên để phá tan ý niệm sinh-diệt, trở về với “quê hương” của chánh niệm ngay nơi mỗi hơi thở.

Thiền giả cần có cuốn Sen Búp Từng Cánh Hé trong tay để nhận diện nhu yếu thiền tập, chọn bài thích hợp thúc đẩy ý niệm thực tập, củng cố chánh niệm, định và tuệ, cuối cùng dẫn đến chuyển hóa khổ đau và giải thoát sinh tử.

Thich Nhat Hanh décembre 7, 1995 Vietnamien

Trần Thái Tông

Hôm nay tại xóm Thượng trong khóa tu mùa đông, Trần Thái Tông – sinh năm 1218, tịch năm 1277 (60 tuổi) – được giới thiệu là một trong những gốc rễ quan trọng của thiền phái Trúc Lâm. Dù không xuất gia ngay từ đầu, vua đã nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông khi mới 20 tuổi, để chuyên tâm tu thiền. Ngay từ năm 20 tuổi, song song với trách nhiệm chính trị, Trần Thái Tông đã thực tập Phật học rất tinh chuyên, trở thành mẫu mực cho các nhà chính trị: vừa cai trị muôn dân, vừa tu học và hướng dẫn thiền cho nhiều vương tử.

Sau một lần trốn lên núi Yên Tử để cầu xuất gia, vua được Trúc Lâm đại sư dạy rằng đã làm vua thì phải “lấy ý thích của nhân dân làm ý thích của mình” nhưng vẫn có thể tu tập không ngưng nghỉ. Trần Thái Tông từ đó duy trì nghiêm túc mọi thời khóa tu học, ghi chép và sáng tác nhiều tác phẩm Phật học, trong đó năm 31 tuổi xuất bản Thiền Tông Chỉ Nam – guide to meditation mà thiền sư nhận xét “trái tim của chư Bụt nằm trong cuốn sách này.”

Pháp hành hằng ngày do vua khởi xướng thể hiện rõ qua nghi thức Lục thời sám hối khoa nghi – mỗi 4 tiếng một thời, sáu thời mỗi ngày, mỗi thời khoảng 15 phút, sám hối lỗi lầm phát sinh từ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Vua còn đề xướng kết hợp ăn chậm nhai kỹ với thiền ngữ và bài kệ để nâng cao chánh niệm, bao gồm bí quyết:

  • nhai 50 lần cho mỗi miếng thức ăn
  • thở vào – “Đã về” / thở ra – “Đã tới”
  • mỉm cười chánh niệm, an trú hôm nay
    Giáo pháp ấy được truyền lại đến nay, trở thành nền tảng của thực tập thiền và tăng thân Trúc Lâm.
Thich Nhat Hanh novembre 23, 1995 Vietnamien

Thiền Hành Là Ngưng Lại

thiền tập trước hết là dừng lại sự đi hoang của mình để trở về quê hương tâm linh, nơi có gốc rễ, tổ tiên, cha mẹ và hạnh phúc. mỗi bước chân vững chãi, mỗi hơi thở chánh niệm đều là một phép thực tập đưa ta về bây giờ và ở đây – điểm tiếp xúc với an lạc và chân tâm

câu chuyện con dê của ông Seguin và truyện giấc mơ nồi cháo kê cho thấy chỉ một chút mê lầm, một bước lỡ hay một biến cố nhỏ cũng có thể kéo ta ra khỏi quê hương; khi đã đi hoang, gặp sói (khổ đau, hiểm nguy) thì tiếng gọi trở về có thể đã muộn. thiền tập là nhận diện tập khí trôi lăn, buông bỏ sợ hãi, lo lắng về quá khứ-tương lai, khơi dậy ước mơ duy nhất là được trở về với tổ tiên, với true home

thực hành tại Làng Hồng nhấn mạnh thiền trong mọi sinh hoạt, đặc biệt thiền hành (đi thiền) – đi mà dừng, dừng mà đi – phối hợp hơi thở và bước chân qua câu “đã về, đã về; đã tới, đã tới”; đây chỉ là phương tiện để:

  1. ăn cơm im lặng
  2. đi thiền hành
  3. làm công việc chấp tác
  4. ngồi thiền
    nhằm chấm dứt trầm luân bất cứ lúc nào trong 7 ngày, 10 ngày hay 3 tháng thực tập, để vững chãi, thảnh thơi và tiếp xúc trực tiếp với niết bàn trong từng phút giây hiện tại
Thich Nhat Hanh mars 5, 1995 Vietnamien

Mỗi Hiện Tượng Là Một Bông Hoa & Ba Cái Lạy

Hương đêm tinh khiết, cây cỏ không phân biệt thời gian và sinh diệt, mỗi buổi sáng luôn mới mẻ, không lặp lại nếu ta có mặt trọn vẹn. Buổi sáng không phải trang sách hay lối đi có thể quay lại, mà là nhạc khúc vang lên khi ta thở, nhìn màu trời, mỉm cười, để ý thức tuôn chảy như ánh nắng mơn man cành lá. Đọt lá mới không phải đo đếm theo tháng năm mà là mầm ý thức tuệ giác nảy nở trong từng khoảnh khắc.

Hoa nở không hẳn vì ai, mà vì chính nó và cả vũ trụ; để nhận thấy, ta cần chánh niệm. Mỗi hiện tượng—mặt trời mọc, bé thơ, lá non—là một “bông hoa” của sự sống. Khi hoa héo là do thiếu kết nối với nguồn sống, gọi là phóng thể. Cảm giác cô đơn chính là ảo tưởng bản ngã tách rời; phương pháp ba cái lạy giúp ta:

  • Lạy thứ nhất nối ta với tổ tiên tâm linh và huyết thống, tiếp nhận cả tinh hoa lẫn khuyết điểm của họ và của chính mình
  • Lạy thứ hai mở rộng mối liên hệ ngang với mọi loài, mọi cá thể trong hiện tại, thấy ta là sư anh, sư chị, trẻ em, kẻ đàn áp, nạn nhân… đều là ta
  • Lạy thứ ba phóng bỏ ý niệm về thân này là ta và sinh tử trong vòng năm mươi, bảy mươi năm, nhận ra không gì sinh, không gì diệt—sự sống là bản môn vô biên, tiếp xúc với niết bàn bằng thân tâm hòa hợp
Thich Nhat Hanh février 16, 1995 Vietnamien

Thức Dậy Miệng Mỉm Cười - Từ Nhãn Thị Chúng Sanh

Kính thưa đại chúng!

TTSĐCTTĐB là chữ viết tắt của “Truyền Thống Sinh Động Của Thiền Tập Đạo Bụt” là bộ pháp thoại được thiền sư Thích Nhất Hạnh giảng vào những năm 1994-1997. Qua bộ pháp thoại này chúng ta sẽ được thiền sư dẫn dắt xuyên suốt qua một hành trình lịch sử của thiền tập đạo Bụt từ Ấn Độ đến Việt Nam và Trung Hoa. Chúng ta sẽ khám phá ra rằng Phật Giáo đã được truyền từ Ấn Độ vào Việt Nam trước cả Trung Hoa hàng trăm năm và tiếp tục truyền sang Trung Hoa chứ không hẳn là từ Trung Hoa sang Việt Nam như chúng ta vẫn nghĩ. Và chúng ta cũng sẽ được biết đến những vị thiền sư lỗi lạc, uyên thâm của dân tộc mà ít được nhắc đến. Đây là một cuộc hành trình dài tập và nhiều thú vị.

Dear community,

TTSĐCTTĐB stands for “The Living Tradition of Buddhist Meditation,” a Dharma talk series delivered by Zen Master Thich Nhat Hanh between 1994 and 1997. Through this series, the Zen Master guides us on a historical journey of Buddhist meditation practice from India to Vietnam and China. We will discover that Buddhism was transmitted from India to Vietnam hundreds of years before it reached China, and then continued to China, contrary to the common belief that it came to Vietnam from China. We will also learn about outstanding and profound Vietnamese Zen masters who are rarely mentioned. This is a long and fascinating journey.

Note: this description was automatically sourced from existing YouTube descriptions and other sources. Please ‘Suggest Edit’ if it’s incorrect.

Thich Nhat Hanh février 9, 1995 Vietnamien

Tu Cho Tổ Tiên

Thực tập có mặt là cốt lõi của cả thiền hànhthiền tọa, giúp mỗi bước chân và mỗi hơi thở trở thành sự tự do, thảnh thơi không chỉ cho chính mình mà cho tổ tiên, gia đình, những người mình thương và cả những người mình chưa thương được. Sự tự do này là nền tảng của hạnh phúc, và từng bước chân thảnh thơi hay mỗi tiếng thở có ý thức chính là một chiến thắng, một vinh quang. Trong 40–50 phút đi thiền hành hay trong giờ ngồi thiền, chúng ta mài giũa tự do nội tại, xây dựng chánh niệm và định tâm, để từng giây phút an trú trở thành những giờ phút linh động nhất.

Trong khi ngồi thiền và thiền hành, ta sử dụng một số trong 16 phương pháp thực tập quán niệm hơi thở, kết hợp với các bài kệ được thực tập tại Làng Hồng, ví dụ

  • Thở vào, biết thở vào – Thở ra, biết thở ra
  • Thở vào, tôi thấy khỏe – Thở ra, tôi thấy nhẹ
  • Thở vào, tâm tĩnh lặng – Thở ra, miệng mỉm cười
  • An trú trong hiện tại, giây phút đẹp tuyệt vời
    Khi thực tập, có thể chọn từng câu kệ để lặp lại cho thuần thục, dùng thiền phổ như nhạc phổ, hoặc đem theo ly trà nhỏ để thiền trà, giúp hòa tấu bản nhạc có mặt và nâng đỡ tăng thân chung quanh.

Hòa giải đơn phương (unilateral disarmament) là pháp môn làm mới trở lại, chuyển hóa hận thù, giận dữ với bất kỳ ai, dù họ ở rất xa, bằng quán chiếu sâu sắc của chánh niệm. Thực tập hòa giải không cần gặp mặt, chỉ cần an trú bây giờ và ở đây, nhìn kỹ nguyên nhân khổ đau, buông bỏ vô minh, là ta đã tha thứ, đã giải giới cho chính mình và gửi đi năng lượng từ bi cho người kia.

Tiền đề lịch sử ghi dấu hai thiền sư phái Tì-ni-đa-lưu-chi

  1. Pháp Thuận (mất năm 991), nhà bác học giỏi kỹ thuật và văn chương, phụ tá vua Lê Đại Hành, từng phục vụ sứ giả nhà Tống và soạn Bồ Tát Hiệu Sám Hối Văn
  2. Vạn Hạnh (21 tuổi xuất gia, tịch năm 1018), cố vấn cho Lê Đại Hành, vận động đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, vẽ họa đồ thành Thăng Long, góp phần mang lại 215 năm hòa bình cho Đại Việt, được vua Lý Nhân Tông tán dương trong bài thơ Vạn Hạnh dung tam tế, chân phù cổ sấm kê…
Thich Nhat Hanh décembre 11, 1994 Vietnamien

Quán Chiếu Lãnh Thổ Của Mình

Bốn bài tập hơi thở trong phần quán niệm về các pháp được chia làm bốn nhóm, mỗi nhóm gồm bốn hơi thở để đối trị và chăm sóc từng khía cạnh của con người

  • Nhóm 1 (thân): trở về với thân thể, chăm sóc thân thể, làm quen với thân thể, quán chiếu thân thể
  • Nhóm 2 (thọ): trở về với cảm thọ, chăm sóc cảm thọ, quán chiếu cảm thọ, chuyển hóa cảm thọ
  • Nhóm 3 (tâm hành): nhận diện tâm hành, tưới tẩm và phát triển những thiện tâm, quán chiếu và chuyển hóa ác tâm (ác ở đây là bất lợi cho tu học) – tổng cộng 50, 51 tâm hành cần chăm sóc, nếu xếp bốn hơi thở cuối cùng cho tâm hành pháp (tâm hành tưởng) thì còn 49 tâm hành
  • Nhóm 4 (pháp): quán chiếu các pháp như tưởng, tham thiền vào mối liên hệ giữa hơi thở và pháp pháp đang vận hành

Quán niệm thân–thọ–tâm được ví như chăm sóc lãnh thổ, một khu vườn nơi ta là vua hay tổng thống:
– chăm sóc thân thể, thống nhất với thân thể để tạo an lạc;
– chăm sóc cảm thọ như nỗi khổ, niềm đau của chính mình;
– săn sóc và bảo vệ 49 hay 51 tâm hành, khai quật và tưới tẩm thiện tâm như

* tín  
* tàm  
* quý  
* vô tham  
* vô sân  
* vô si  
* cần  
* khinh an  
* bất phóng dật  
* hành xả  
* bất hại;  

– chống lại độc tố từ sách báo, truyền hình, rượu chè, vũ trường bằng khả năng “hộ trì sáu căn”, cho phép hay từ chối những gì đi vào thân–tâm.

Thực tập mỗi hơi thở với 100% thân tâm tạo định lựcniềm vui trong từng giây phút, biến mỗi bước thiền hành, mỗi bữa cơm, mỗi giờ chùi nồi rửa chén thành một ngày hội (festival) dưới bóng mát chánh pháp. Các phép thiền ngữ cơ bản có thể thay đổi theo bước chân:

  1. In–out–deep–slow (hơi thở vào–ra, sâu–chậm)
  2. Here is the pure land–the pure land is here (đây là tịnh độ–tịnh độ là đây)
  3. I have arrived–I’m home (đã về–đã tới–đây là nhà)

Nhờ vậy, ngay tại Làng Hồng cũng có thể bước đi với sự an lạc và giá trị vượt cả lễ hội trên núi Linh Thứu, mỗi phút giây đều là pháp mầu, mỗi con người đều có khả năng tạo dựng và chia sẻ hạnh phúc.